Hiển thị các bài đăng có nhãn tin giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Lịch thi học kỳ 1 năm học 2014 - 2015 của tỉnh BRVT
Điểm chuẩn tuyển sinh của tỉnh BRVT năm 2014 - 2015
Những điều cần biết về tuyển sinh đại học năm 2014
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Tổ chức bản thảo và chịu trách nhiệm nội dung:
Biên tập:
Trình bày bìa:
Chế bản và sửa bản in:
Năm 2014 Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam được Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) giao nhiệm vụ tổ chức biên soạn và phát hành tài liệu phục vụ công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2014. Các thông tin này được cập nhật đến ngày 06/3/2014 do các đại học, học viện, các trường đại học, cao đẳng cung cấp và chịu trách nhiệm.
Cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014” cung cấp những thông tin quan trọng về tuyển sinh đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) trong toàn quốc như: Những điều cần ghi nhớ của thí sinh dự thi; Lịch công tác tuyển sinh; Bảng phân chia khu vực tuyển sinh của 63 tỉnh, thành phố; Mã tuyển sinh tỉnh, thành phố, quận, huyện; Mã đăng kí dự thi vãng lai; Danh sách các trường ĐH, CĐ không tổ chức thi nhưng sử dụng kết quả thi theo đề thi chung của Bộ GD&ĐT để xét tuyển; Danh sách các trường đăng kí tuyển sinh theo Đề án tuyển sinh riêng; Những thông tin tuyển sinh của các ĐH, học viện, trường ĐH, CĐ gồm: tên và kí hiệu trường, mã quy ước của ngành học, khối thi, thời gian thi, vùng tuyển và các thông tin cần thiết khác của các trường.
Các thông tin cụ thể về chỉ tiêu tuyển sinh của từng ngành, điều kiện dự thi, chuyên ngành đào tạo và các thông tin tuyển sinh đào tạo liên thông, vừa làm vừa học,... thí sinh tham khảo tại địa chỉ website của từng trường.
Cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014” giúp thí sinh lựa chọn trường, khối thi và ngành dự thi phù hợp với nguyện vọng và năng lực học tập của mình. Toàn bộ nội dung cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014” được đăng tải trên trang thông tin của Bộ GD&ĐT tại địa chỉ http://www.moet.edu.vn.
Chú ý: Hầu như các file được soạn trên docx
Xem thêm: lịch thi và khối thi
Các bạn có thể tải file về tại đây
Hướng dẫn download tài liệu: Nhấp chuột vào biểu tượng DOWNLOAD
Tệp
Chọn tải xuống
Chủ tịch HĐTV kiêm Tổng Giám đốc NGƯT NGÔ TRẦN ÁI
Phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập GS-TS. VŨ VĂN HÙNG
Tổ chức bản thảo và chịu trách nhiệm nội dung:
Phó Tổng biên tập NGUYỄN VĂN TÙNG
Giám đốc Công ty Cổ phần Sách và TBTH Hà Tây NGUYỄN TIẾN CƯỜNG
Biên tập:
NGUYỄN ĐÌNH TÁM – NGUYỄN VĂN LUỸ - ĐỖ TỐ NGA
THÁI THANH VÂN
Công ty TNHH MTV In Quân đội 1
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014” cung cấp những thông tin quan trọng về tuyển sinh đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) trong toàn quốc như: Những điều cần ghi nhớ của thí sinh dự thi; Lịch công tác tuyển sinh; Bảng phân chia khu vực tuyển sinh của 63 tỉnh, thành phố; Mã tuyển sinh tỉnh, thành phố, quận, huyện; Mã đăng kí dự thi vãng lai; Danh sách các trường ĐH, CĐ không tổ chức thi nhưng sử dụng kết quả thi theo đề thi chung của Bộ GD&ĐT để xét tuyển; Danh sách các trường đăng kí tuyển sinh theo Đề án tuyển sinh riêng; Những thông tin tuyển sinh của các ĐH, học viện, trường ĐH, CĐ gồm: tên và kí hiệu trường, mã quy ước của ngành học, khối thi, thời gian thi, vùng tuyển và các thông tin cần thiết khác của các trường.
Các thông tin cụ thể về chỉ tiêu tuyển sinh của từng ngành, điều kiện dự thi, chuyên ngành đào tạo và các thông tin tuyển sinh đào tạo liên thông, vừa làm vừa học,... thí sinh tham khảo tại địa chỉ website của từng trường.
Cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014” giúp thí sinh lựa chọn trường, khối thi và ngành dự thi phù hợp với nguyện vọng và năng lực học tập của mình. Toàn bộ nội dung cuốn “Những điều cần biết về tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2014” được đăng tải trên trang thông tin của Bộ GD&ĐT tại địa chỉ http://www.moet.edu.vn.
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Chú ý: Hầu như các file được soạn trên docx
Xem thêm: lịch thi và khối thi
Các bạn có thể tải file về tại đây
Hướng dẫn download tài liệu: Nhấp chuột vào biểu tượng DOWNLOAD
Tệp
Chọn tải xuống Sách giáo khoa: Sự lãng phí tiền của
Bộ GD-ĐT công bố dự kiến chi tiêu hơn 34.000 tỉ đồng
Tối qua (16.4), Bộ GD-ĐT đã công bố (bằng văn bản) khái toán kinh phí thực hiện đổi mới chương trình - SGK phổ thông sau 2015. Theo đó, tổng kinh phí dự kiến cho đề án này là 34.275 tỉ đồng. Trong đó, 5 khoản chi cụ thể như sau:
Kinh phí dành cho biên soạn chương trình - SGK, sách giáo viên: 105 tỉ đồng, bao gồm: xây dựng chương trình tổng thể và chương trình các môn học của 12 lớp; biên soạn SGK, sách giáo viên từ lớp 1 đến lớp 12; tổ chức thẩm định chương trình và SGK...
Kinh phí dành cho tổ chức thử nghiệm chương trình - SGK mới tại 600 trường với 34.000 học sinh: 910 tỉ đồng, bao gồm: tập huấn, bồi dưỡng dạy thử nghiệm cho giáo viên và cán bộ quản lý (khoảng 20.000 người); đánh giá và hoàn thiện SGK, sách giáo viên; cấp SGK thử nghiệm cho học sinh và sách giáo viên cho giáo viên dạy thử nghiệm.
Kinh phí triển khai dạy học đại trà theo chương trình - SGK mới: 8.150 tỉ đồng, bao gồm: Triển khai dạy học đại trà trên phạm vi cả nước (khoảng 30.000 trường, 15 triệu học sinh); tập huấn bồi dưỡng dạy học đại trà theo chương trình và SGK mới cho giáo viên và cán bộ quản lý (khoảng 900.000 người).
Khoán kinh phí lớn nhất dự kiến đầu tư cho trang thiết bị dạy học với: 20.100 tỉ đồng, bao gồm: bổ sung, thay thế khoảng 50% thiết bị dạy học tối thiểu đã có; trang bị mới thiết bị do chương trình - SGK mới yêu cầu.
Kinh phí dành cho ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng kênh truyền thông giáo dục: 5.010 tỉ đồng, bao gồm: xây dựng kênh truyền thông giáo dục phục vụ đổi mới chương trình - SGK giáo dục phổ thông gắn với xây dựng xã hội học tập...
Tối qua (16.4), Bộ GD-ĐT đã công bố (bằng văn bản) khái toán kinh phí thực hiện đổi mới chương trình - SGK phổ thông sau 2015. Theo đó, tổng kinh phí dự kiến cho đề án này là 34.275 tỉ đồng. Trong đó, 5 khoản chi cụ thể như sau:
Kinh phí dành cho biên soạn chương trình - SGK, sách giáo viên: 105 tỉ đồng, bao gồm: xây dựng chương trình tổng thể và chương trình các môn học của 12 lớp; biên soạn SGK, sách giáo viên từ lớp 1 đến lớp 12; tổ chức thẩm định chương trình và SGK...
Kinh phí dành cho tổ chức thử nghiệm chương trình - SGK mới tại 600 trường với 34.000 học sinh: 910 tỉ đồng, bao gồm: tập huấn, bồi dưỡng dạy thử nghiệm cho giáo viên và cán bộ quản lý (khoảng 20.000 người); đánh giá và hoàn thiện SGK, sách giáo viên; cấp SGK thử nghiệm cho học sinh và sách giáo viên cho giáo viên dạy thử nghiệm.
Kinh phí triển khai dạy học đại trà theo chương trình - SGK mới: 8.150 tỉ đồng, bao gồm: Triển khai dạy học đại trà trên phạm vi cả nước (khoảng 30.000 trường, 15 triệu học sinh); tập huấn bồi dưỡng dạy học đại trà theo chương trình và SGK mới cho giáo viên và cán bộ quản lý (khoảng 900.000 người).
Khoán kinh phí lớn nhất dự kiến đầu tư cho trang thiết bị dạy học với: 20.100 tỉ đồng, bao gồm: bổ sung, thay thế khoảng 50% thiết bị dạy học tối thiểu đã có; trang bị mới thiết bị do chương trình - SGK mới yêu cầu.
Kinh phí dành cho ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng kênh truyền thông giáo dục: 5.010 tỉ đồng, bao gồm: xây dựng kênh truyền thông giáo dục phục vụ đổi mới chương trình - SGK giáo dục phổ thông gắn với xây dựng xã hội học tập...
Theo: Tuệ Nguyễn
Sách nhảm vào trường mầm non
Theo phản ảnh của bạn đọc, Tuổi Trẻ đã về phường Tân Phong (TP Biên Hòa, Đồng Nai) để tìm hiểu về sách học thêm dành cho trẻ mầm non có nội dung nhảm nhí, giá rẻ, lại được giáo viên mách nước nên nhiều phụ huynh đã tìm mua cho con.
“Một lần đến chơi nhà người cháu, tôi tình cờ thấy bé gái 5 tuổi, học lớp lá của một trường mẫu giáo dân lập cầm một cuốn sách nhỏ, đọc những câu ngô nghê. Tôi lại xem thì đó là cuốn “Đánh vần mau - Soạn theo lối văn vần, học vui, mau nhớ”. Mở những trang bên trong, tôi tá hỏa vì nội dung phản cảm, nhảm nhí, thiếu tính giáo dục.
Những câu văn chủ ý ghép từ có vần theo yêu cầu từng bài chứ không quan tâm đến nội dung - nghệ thuật nên rất nhiều chỗ thật ngớ ngẩn, thậm chí sai chính tả. Tôi hỏi mẹ cháu: “Cuốn này lấy ở đâu ra mà cho bé học?”, mẹ cháu kể cô giáo yêu cầu phụ huynh đóng tiền rồi cô phát cho các cháu học thêm bên cạnh sách giáo khoa lớp 1” - một bạn đọc tâm sự.
Bán vô tư
Theo chỉ dẫn của phụ huynh, chúng tôi vào nhà sách TT cuối đường Nguyễn Văn Tiên (còn được gọi là đường Phi Trường), phường Tân Phong, TP Biên Hòa. Chúng tôi chỉ vừa cất tiếng hỏi mua sách “Đánh vần mau”, chủ cửa hàng sách vào trong và đưa ra quyển sách nhỏ hơn quyển tập, in thô, bìa vàng khá lòe loẹt nói gọn lỏn “6.000 đồng”.
Cũng trên đường Nguyễn Văn Tiên, vào nhà sách MT, khi chúng tôi hỏi “cuốn sách đánh vần”, chủ nhà sách hỏi lại: “Sách “Đánh vần mau” hay sách đánh vần tiếng Việt?”. Chúng tôi nói: “Mua sách đánh vần mau”, chủ nhà sách chỉ cho chúng tôi hai chồng sách “Đánh vần mau” khoảng vài chục cuốn bìa xanh và bìa đỏ.
Chúng tôi lấy quyển xanh, chủ nhà sách nói giá 7.000 đồng. Khi chúng tôi thắc mắc: “Vì sao sách không có nhà xuất bản mà cô giáo bắt phải mua?”, chủ nhà sách tỏ vẻ thông cảm, an ủi: “Sách bây giờ loạn lên hết nên trò phải theo cô giáo”. “Chú lấy sách nhà xuất bản nào vậy?” - chúng tôi hỏi. “Chẳng ở đâu cả, nó in lậu tràn lan và bỏ ở đây để bán thôi” - chủ nhà sách không giấu giếm.
Sai tràn lan
Trong “lời nói đầu”, những người biên soạn viết hướng dẫn giáo viên cách sử dụng sách với cách dùng từ không chuẩn. Bắt đầu tác giả viết: “Chúng tôi viết ra cuốn vần này, bài vở đều theo lối văn vần. Bài học và tập đọc đều là những câu lục bát hoặc ít câu ngăn ngắn, vui vui để các em thích đọc và dễ nhớ”. Sách còn dạy: “Chúng ta nên lấy những hình vật tương tợ với chữ mà giảng cho các em nghe. Do đó các em thấy vui, có thể mau nhớ, chẳng hạn những chữ i là cái móc có chấm tròn trên đầu. O tròn như quả trứng vân... vân...”.
Cuối “lời nói đầu”, tác giả viết một lèo không chấm phẩy và sai lỗi chính tả: “Rất mong khi dùng cuốn sách này các anh chị em đồng nghiệp và quý vị phụ huynh học trò sẵn lòng chỉ bảo thêm cho những chỗ chúng tôi còn thiếu xót” (?!).
Bên trong quyển sách nhiều nội dung phản cảm, nhảm nhí, thiếu tính giáo dục, thậm chí sai chính tả. Mục vần “gh” tác giả viết “ở dơ ghẻ - lở - da dẻ sù sì - ra mủ sợ ghê” (thay vì dùng xù xì); vần p thì “phở phố phá khỉ già ra phố - đá đổ cà phê - ê... ê...!”. Thậm chí sai chính tả “trời mưa thì mặc trời mưa/em ngồi rán học, kẻo thua bạn bè”. Một số chỗ đưa những từ người lớn cũng khó hiểu nổi “Con hùm. Có con hùm xám, đi về chợ num, đi qua chỗ hũm, ngã ùm què chân”; “Sen quí đến hè sen nở qua thu sen tàn sen quí như lan sen quí như lí”...
Một giáo viên dạy văn ở TP Biên Hòa khi đọc quyển sách trên bức xúc cho biết: “Tôi rất buồn cho giáo viên, nếu là người thật sự có trình độ sư phạm thì không ai lại chọn một tài liệu không đạt bất cứ chuẩn nào từ hình thức đến nội dung như thế để dạy học trò. Họ sẽ tạo những vết gì trong trí óc và tâm hồn những đứa trẻ bé bỏng, ngây thơ, trong sáng? Và tôi lại thấy thương những đứa trẻ biết bao!”.
Nghiêm cấm
Chúng tôi vào Trường mầm non HĐ, nơi phụ huynh phản ảnh cô giáo yêu cầu mua sách này cho các em. Trả lời chúng tôi, cô giáo phụ trách Lê Thị Liên cho biết: “Không hề có chuyện trường chúng tôi cho các em học theo quyển “Đánh vần mau”, có thể ai đó cạnh tranh, ganh ghét nên vu như vậy. Chúng tôi dạy theo quy định của Phòng GD-ĐT TP Biên Hòa. Đối với các em lớp lá chỉ dạy toán từ số 1 đến số 10 và thêm bớt (như 10 bớt 2 còn 8...), đồng thời dạy cho các em biết 29 chữ cái”.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Chu Như Ý, trưởng Phòng giáo dục mầm non Sở GD-ĐT Đồng Nai, cho biết ngành giáo dục nghiêm cấm, không cho dạy trước chương trình, ngay cả quyển “Dạy tiếng Việt” của Bộ GD-ĐT cũng không được đưa vào dạy ở cấp mầm non. Trước đây, ngành giáo dục mầm non đã nghe đến quyển “Đánh vần mau” nhưng đã nghiêm cấm không cho dạy. Ở lứa tuổi mầm non, chỉ có học sinh 5 tuổi mới được học nhận dạng bảng chữ cái và phát âm. Việc bạn đọc phản ảnh có trường đưa sách “Đánh vần mau” cho học sinh học là vi phạm, tùy tiện. Ngành giáo dục mầm non sẽ làm việc với Phòng GD-ĐT TP Biên Hòa, tăng cường kiểm tra, nắm tình hình và hướng dẫn hiệu trưởng các trường làm đúng quy định. Nếu trường nào vi phạm dạy trước chương trình sẽ bị xử lý nghiêm.
Nhan nhản lỗi trong sách “Đánh vần mau” - Ảnh: Ngọc Hậu
“Một lần đến chơi nhà người cháu, tôi tình cờ thấy bé gái 5 tuổi, học lớp lá của một trường mẫu giáo dân lập cầm một cuốn sách nhỏ, đọc những câu ngô nghê. Tôi lại xem thì đó là cuốn “Đánh vần mau - Soạn theo lối văn vần, học vui, mau nhớ”. Mở những trang bên trong, tôi tá hỏa vì nội dung phản cảm, nhảm nhí, thiếu tính giáo dục.
Những câu văn chủ ý ghép từ có vần theo yêu cầu từng bài chứ không quan tâm đến nội dung - nghệ thuật nên rất nhiều chỗ thật ngớ ngẩn, thậm chí sai chính tả. Tôi hỏi mẹ cháu: “Cuốn này lấy ở đâu ra mà cho bé học?”, mẹ cháu kể cô giáo yêu cầu phụ huynh đóng tiền rồi cô phát cho các cháu học thêm bên cạnh sách giáo khoa lớp 1” - một bạn đọc tâm sự.
Bán vô tư
Theo chỉ dẫn của phụ huynh, chúng tôi vào nhà sách TT cuối đường Nguyễn Văn Tiên (còn được gọi là đường Phi Trường), phường Tân Phong, TP Biên Hòa. Chúng tôi chỉ vừa cất tiếng hỏi mua sách “Đánh vần mau”, chủ cửa hàng sách vào trong và đưa ra quyển sách nhỏ hơn quyển tập, in thô, bìa vàng khá lòe loẹt nói gọn lỏn “6.000 đồng”.
Cũng trên đường Nguyễn Văn Tiên, vào nhà sách MT, khi chúng tôi hỏi “cuốn sách đánh vần”, chủ nhà sách hỏi lại: “Sách “Đánh vần mau” hay sách đánh vần tiếng Việt?”. Chúng tôi nói: “Mua sách đánh vần mau”, chủ nhà sách chỉ cho chúng tôi hai chồng sách “Đánh vần mau” khoảng vài chục cuốn bìa xanh và bìa đỏ.
Chúng tôi lấy quyển xanh, chủ nhà sách nói giá 7.000 đồng. Khi chúng tôi thắc mắc: “Vì sao sách không có nhà xuất bản mà cô giáo bắt phải mua?”, chủ nhà sách tỏ vẻ thông cảm, an ủi: “Sách bây giờ loạn lên hết nên trò phải theo cô giáo”. “Chú lấy sách nhà xuất bản nào vậy?” - chúng tôi hỏi. “Chẳng ở đâu cả, nó in lậu tràn lan và bỏ ở đây để bán thôi” - chủ nhà sách không giấu giếm.
Sai tràn lan
Trong “lời nói đầu”, những người biên soạn viết hướng dẫn giáo viên cách sử dụng sách với cách dùng từ không chuẩn. Bắt đầu tác giả viết: “Chúng tôi viết ra cuốn vần này, bài vở đều theo lối văn vần. Bài học và tập đọc đều là những câu lục bát hoặc ít câu ngăn ngắn, vui vui để các em thích đọc và dễ nhớ”. Sách còn dạy: “Chúng ta nên lấy những hình vật tương tợ với chữ mà giảng cho các em nghe. Do đó các em thấy vui, có thể mau nhớ, chẳng hạn những chữ i là cái móc có chấm tròn trên đầu. O tròn như quả trứng vân... vân...”.
Cuối “lời nói đầu”, tác giả viết một lèo không chấm phẩy và sai lỗi chính tả: “Rất mong khi dùng cuốn sách này các anh chị em đồng nghiệp và quý vị phụ huynh học trò sẵn lòng chỉ bảo thêm cho những chỗ chúng tôi còn thiếu xót” (?!).
Bên trong quyển sách nhiều nội dung phản cảm, nhảm nhí, thiếu tính giáo dục, thậm chí sai chính tả. Mục vần “gh” tác giả viết “ở dơ ghẻ - lở - da dẻ sù sì - ra mủ sợ ghê” (thay vì dùng xù xì); vần p thì “phở phố phá khỉ già ra phố - đá đổ cà phê - ê... ê...!”. Thậm chí sai chính tả “trời mưa thì mặc trời mưa/em ngồi rán học, kẻo thua bạn bè”. Một số chỗ đưa những từ người lớn cũng khó hiểu nổi “Con hùm. Có con hùm xám, đi về chợ num, đi qua chỗ hũm, ngã ùm què chân”; “Sen quí đến hè sen nở qua thu sen tàn sen quí như lan sen quí như lí”...
Một giáo viên dạy văn ở TP Biên Hòa khi đọc quyển sách trên bức xúc cho biết: “Tôi rất buồn cho giáo viên, nếu là người thật sự có trình độ sư phạm thì không ai lại chọn một tài liệu không đạt bất cứ chuẩn nào từ hình thức đến nội dung như thế để dạy học trò. Họ sẽ tạo những vết gì trong trí óc và tâm hồn những đứa trẻ bé bỏng, ngây thơ, trong sáng? Và tôi lại thấy thương những đứa trẻ biết bao!”.
Nghiêm cấm
Chúng tôi vào Trường mầm non HĐ, nơi phụ huynh phản ảnh cô giáo yêu cầu mua sách này cho các em. Trả lời chúng tôi, cô giáo phụ trách Lê Thị Liên cho biết: “Không hề có chuyện trường chúng tôi cho các em học theo quyển “Đánh vần mau”, có thể ai đó cạnh tranh, ganh ghét nên vu như vậy. Chúng tôi dạy theo quy định của Phòng GD-ĐT TP Biên Hòa. Đối với các em lớp lá chỉ dạy toán từ số 1 đến số 10 và thêm bớt (như 10 bớt 2 còn 8...), đồng thời dạy cho các em biết 29 chữ cái”.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Chu Như Ý, trưởng Phòng giáo dục mầm non Sở GD-ĐT Đồng Nai, cho biết ngành giáo dục nghiêm cấm, không cho dạy trước chương trình, ngay cả quyển “Dạy tiếng Việt” của Bộ GD-ĐT cũng không được đưa vào dạy ở cấp mầm non. Trước đây, ngành giáo dục mầm non đã nghe đến quyển “Đánh vần mau” nhưng đã nghiêm cấm không cho dạy. Ở lứa tuổi mầm non, chỉ có học sinh 5 tuổi mới được học nhận dạng bảng chữ cái và phát âm. Việc bạn đọc phản ảnh có trường đưa sách “Đánh vần mau” cho học sinh học là vi phạm, tùy tiện. Ngành giáo dục mầm non sẽ làm việc với Phòng GD-ĐT TP Biên Hòa, tăng cường kiểm tra, nắm tình hình và hướng dẫn hiệu trưởng các trường làm đúng quy định. Nếu trường nào vi phạm dạy trước chương trình sẽ bị xử lý nghiêm.
NGỌC HẬU - THẢO CHI
Nguồn: http://tuoitre.vn
Giảm tiêu cực, giải pháp của Bộ giáo dục?
Khuyến khích tuyển sinh riêng
Trao đổi sâu hơn về định hướng đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá, ông Hiển cho biết: “Ở bậc phổ thông không dồn vào một kỳ thi cuối cấp như hiện nay mà kiểm tra, đánh giá ngay trong quá trình dạy học, sau khi kết thúc các môn học. Việc này giảm áp lực cho học sinh, tránh những tiêu cực như đã xảy ra”.
Với góc nhìn của lãnh đạo Bộ GD-ĐT theo sát giáo dục phổ thông và việc đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, ông Hiển cho biết “không chỉ đổi mới hình thức thi cử, đánh giá với những kênh khác nhau, nội dung thi, kiểm tra cũng sẽ thay đổi dần để phù hợp với việc chuyển từ nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực”.
Về kỳ thi tuyển sinh đại học, Thứ trưởng Hiển cho hay trong thời gian tới, Bộ GD-ĐT khuyến khích những cơ sở giáo dục đủ điều kiện chủ động phương án tuyển sinh theo cách thức phù hợp với mục tiêu, đặc thù của mỗi trường. Trả lời câu hỏi về việc liệu có xảy ra tiêu cực không khi giao kỳ thi tuyển sinh cho các trường trong bối cảnh hiện nay vẫn còn nhiều trường ĐH mới và ĐH ngoài công lập bất chấp chất lượng để thu hút người học, Thứ trưởng Hiển khẳng định: “Việc giao chủ động không làm giảm mà tăng trách nhiệm của các trường về chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, các trường vẫn phải chịu sự giám sát của nhiều kênh, trong đó có giám sát của xã hội, của người học”.
Giảm tải, giảm tiêu cực
Nhận định tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng ông Nguyễn Vinh Hiển cũng cho rằng “giảm tải nội dung, chương trình sẽ có tác động tích cực tới việc giảm dạy thêm, học thêm”. Theo ông Hiển, với sự thiết kế lại chương trình giáo dục phổ thông và đổi mới thi cử, việc dạy thêm, học thêm sẽ chỉ còn tồn tại khi có nhu cầu thật sự và chính đáng của người học.
PGS Đinh Xuân Khoa và PGS Văn Như Cương đều cho rằng tăng giờ học chính khóa trong nhà trường, trong đó có việc tăng số trường, học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày tại trường, kiểm soát tốt hoạt động chuyên môn của thầy cô giáo, tăng lương cho giáo viên... là những việc cần thiết góp phần thiết thực giảm dạy thêm, học thêm tiêu cực.
Các vị khách mời của cuộc tọa đàm cũng nhấn mạnh rằng không phải cứ dạy thêm, học thêm đều là tiêu cực. Cái tiêu cực cần phải khắc phục, xóa bỏ, nhưng cái không phải tiêu cực thì phải nhìn nhận khác. “Có những kiểu dạy thêm, học thêm trong sáng, như việc bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo thêm cho học sinh kém. Chúng ta không nên vì những tiêu cực mà phủ nhận thành quả của “dạy thêm trong sáng” này” - PGS Cương bày tỏ.
Chia sẻ về vấn nạn “dạy thêm, học thêm” mang màu sắc tiêu cực, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển thừa nhận đây là một “gánh nặng” của ngành GD-ĐT mà xã hội đòi hỏi phải giải quyết dứt điểm. Nhưng ngoài trách nhiệm của ngành GD-ĐT còn là trách nhiệm của từng nhà trường, thầy cô giáo và của phụ huynh.Trao đổi sâu hơn về định hướng đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá, ông Hiển cho biết: “Ở bậc phổ thông không dồn vào một kỳ thi cuối cấp như hiện nay mà kiểm tra, đánh giá ngay trong quá trình dạy học, sau khi kết thúc các môn học. Việc này giảm áp lực cho học sinh, tránh những tiêu cực như đã xảy ra”.
Với góc nhìn của lãnh đạo Bộ GD-ĐT theo sát giáo dục phổ thông và việc đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, ông Hiển cho biết “không chỉ đổi mới hình thức thi cử, đánh giá với những kênh khác nhau, nội dung thi, kiểm tra cũng sẽ thay đổi dần để phù hợp với việc chuyển từ nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực”.
Về kỳ thi tuyển sinh đại học, Thứ trưởng Hiển cho hay trong thời gian tới, Bộ GD-ĐT khuyến khích những cơ sở giáo dục đủ điều kiện chủ động phương án tuyển sinh theo cách thức phù hợp với mục tiêu, đặc thù của mỗi trường. Trả lời câu hỏi về việc liệu có xảy ra tiêu cực không khi giao kỳ thi tuyển sinh cho các trường trong bối cảnh hiện nay vẫn còn nhiều trường ĐH mới và ĐH ngoài công lập bất chấp chất lượng để thu hút người học, Thứ trưởng Hiển khẳng định: “Việc giao chủ động không làm giảm mà tăng trách nhiệm của các trường về chất lượng tuyển sinh, chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, các trường vẫn phải chịu sự giám sát của nhiều kênh, trong đó có giám sát của xã hội, của người học”.
Giảm tải, giảm tiêu cực
Nhận định tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng ông Nguyễn Vinh Hiển cũng cho rằng “giảm tải nội dung, chương trình sẽ có tác động tích cực tới việc giảm dạy thêm, học thêm”. Theo ông Hiển, với sự thiết kế lại chương trình giáo dục phổ thông và đổi mới thi cử, việc dạy thêm, học thêm sẽ chỉ còn tồn tại khi có nhu cầu thật sự và chính đáng của người học.
PGS Đinh Xuân Khoa và PGS Văn Như Cương đều cho rằng tăng giờ học chính khóa trong nhà trường, trong đó có việc tăng số trường, học sinh tiểu học học 2 buổi/ngày tại trường, kiểm soát tốt hoạt động chuyên môn của thầy cô giáo, tăng lương cho giáo viên... là những việc cần thiết góp phần thiết thực giảm dạy thêm, học thêm tiêu cực.
Các vị khách mời của cuộc tọa đàm cũng nhấn mạnh rằng không phải cứ dạy thêm, học thêm đều là tiêu cực. Cái tiêu cực cần phải khắc phục, xóa bỏ, nhưng cái không phải tiêu cực thì phải nhìn nhận khác. “Có những kiểu dạy thêm, học thêm trong sáng, như việc bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo thêm cho học sinh kém. Chúng ta không nên vì những tiêu cực mà phủ nhận thành quả của “dạy thêm trong sáng” này” - PGS Cương bày tỏ.
PGS Văn Như Cương, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh - Hà Nội
Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá
Các trường sư phạm hiện nay đã có chương trình đào tạo giáo viên trong việc kiểm tra, đánh giá học sinh nhưng nhìn chung nội dung, phương pháp và thời gian dành cho việc này vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu mới đặt ra. Vì thế Bộ GD-ĐT yêu cầu các trường sư phạm đi trước một bước trong việc khắc phục bất cập này để giáo viên tốt nghiệp sư phạm có kỹ năng cần thiết trong việc kiểm tra, đánh giá học sinh theo quan điểm chỉ đạo mới hiện nay.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT
Nguyễn Vinh Hiển
Nguồn: http://tuoitre.vn
60 tỉ đồng cải thiện nhà vệ sinh trường học, nông thôn
Ngày 23.11 tại TP.HCM, Cục Quản lý môi trường (Bộ Y tế) ký kết với Công ty Unilever về việc triển khai chương trình “Hành trình nhà vệ sinh sạch khuẩn”.
Chương trình do Unilever tài trợ chi phí, sẽ triển khai từ nay đến năm 2018, dành 60 tỉ đồng để cải thiện điều kiện vệ sinh, xây nhà vệ sinh cho 10 triệu người ở các vùng nông thôn và cụm nhà vệ sinh cho các trường tiểu học ở nhiều tỉnh thành. Đồng thời sẽ tổ chức giáo dục ý thức đảm bảo vệ sinh, phòng chống dịch bệnh…
Chương trình do Unilever tài trợ chi phí, sẽ triển khai từ nay đến năm 2018, dành 60 tỉ đồng để cải thiện điều kiện vệ sinh, xây nhà vệ sinh cho 10 triệu người ở các vùng nông thôn và cụm nhà vệ sinh cho các trường tiểu học ở nhiều tỉnh thành. Đồng thời sẽ tổ chức giáo dục ý thức đảm bảo vệ sinh, phòng chống dịch bệnh…
Nguồn: Thanh Tùng
Nguyễn Thiện Nhân đã biết xấu hổ
Lặng người, xấu hổ vì dạy thêm
Cũng trong phần phát biểu, ông Nguyễn Thiện Nhân kể lại câu chuyện đáng buồn về nạn dạy thêm, học thêm tràn lan như một lời nhắc nhở ngành giáo dục. Ông nói: “Cách đây hơn 2 tháng, tôi gặp một người mẹ có hai con đang học tiểu học và THCS ở Hà Nội. Chị nói: Thầy ạ, con em đang học lớp 7, hầu như cả lớp phải học thêm 3 môn văn, toán, tiếng Anh, mỗi tháng đóng 900.000 đồng. Em còn một cháu học tiểu học nữa, khó quá thầy ạ. Tháng vừa rồi chị gặp tôi lại nói: Từ tháng 10 là đóng 950.000 đồng, thầy ạ. Tôi lặng người, không nói nên lời, cảm thấy xấu hổ”.
Cũng trong phần phát biểu, ông Nguyễn Thiện Nhân kể lại câu chuyện đáng buồn về nạn dạy thêm, học thêm tràn lan như một lời nhắc nhở ngành giáo dục. Ông nói: “Cách đây hơn 2 tháng, tôi gặp một người mẹ có hai con đang học tiểu học và THCS ở Hà Nội. Chị nói: Thầy ạ, con em đang học lớp 7, hầu như cả lớp phải học thêm 3 môn văn, toán, tiếng Anh, mỗi tháng đóng 900.000 đồng. Em còn một cháu học tiểu học nữa, khó quá thầy ạ. Tháng vừa rồi chị gặp tôi lại nói: Từ tháng 10 là đóng 950.000 đồng, thầy ạ. Tôi lặng người, không nói nên lời, cảm thấy xấu hổ”.
Nguồn: Tuệ Nguyễn
Hướng dẫn kiểm tra học kì I năm học 2013 - 2014 của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Công văn số 1522/SGDĐT-GDTrH: V/v Hướng dẫn kiểm tra học kì I năm học 2013-2014
Số: 1522/SGDĐT-GDTrH, ngày 13 tháng 11 năm 2013
Kính gửi :
- Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thành phố;
- Hiệu trưởng trường phổ thông.
Thực hiện nhiệm vụ năm học năm học 2013 – 2014, Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc tổ chức kiểm tra học kì I như sau:
Các bạn có thể tải file về tại đây
1. Công văn
2. Ma trận môn toán lớp 10
3. Ma trận môn toán lớp 11
4. Ma trận môn toán lớp 12
Hướng dẫn download tài liệu: Nhấp chuột vào biểu tượng DOWNLOAD
Tệp
Chọn tải xuống
Số: 1522/SGDĐT-GDTrH, ngày 13 tháng 11 năm 2013
Kính gửi :
- Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, thành phố;
- Hiệu trưởng trường phổ thông.
Thực hiện nhiệm vụ năm học năm học 2013 – 2014, Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn việc tổ chức kiểm tra học kì I như sau:
Các bạn có thể tải file về tại đây
1. Công văn
2. Ma trận môn toán lớp 10
3. Ma trận môn toán lớp 11
4. Ma trận môn toán lớp 12
Hướng dẫn download tài liệu: Nhấp chuột vào biểu tượng DOWNLOAD
Tệp
Chọn tải xuống Dạy điều học sinh cần
Bộ GD-ĐT cho 6 trường trong cả nước thí điểm “Phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông” để các trường chủ động thiết kế chương trình học phù hợp với học sinh.
Giáo viên tự chủ thiết kế chương trình
Mục tiêu của chương trình là khuyến khích các trường tham gia hoạt động thí điểm phát triển chương trình giáo dục trường phổ thông như điều chỉnh cấu trúc nội dung dạy học, xây dựng kế hoạch giáo dục trong từng môn học, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá...
Ông Lê Thành Thái, Hiệu trưởng Trường trung học Thực hành (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM), cho rằng đây là chương trình hay, nhằm chuẩn bị cho chương trình sách giáo khoa mới sau năm 2015. Giáo viên sẽ tự chủ chương trình, có thể lược bỏ các kiến thức hàn lâm, nhiều tính lý luận hoặc thêm vào những kiến thức cần thiết cho chương trình. Nhờ vậy, giáo viên bộ môn sẽ biết học sinh mình cần kiến thức gì, ngán nội dung nào… mà có những điều chỉnh hợp lý. “Tôi cho rằng, cách làm này rất có lợi cho người học. Về lâu về dài sẽ thể hiện được tính tích cực trong dạy và học ở bậc THPT”, ông Thái nhận định.
Ngoài việc tự chủ chương trình, ở các trường đang thí điểm còn có được lợi thế là đều trực thuộc các trường ĐH có khối ngành sư phạm. Vì thế việc thêm, bớt nội dung kiến thức trong quá trình giảng dạy sẽ được các khoa sư phạm liên quan phản biện để đạt tính khoa học cao. “Chúng tôi giao toàn quyền về việc chủ động chương trình cho các tổ bộ môn. Tổ bộ môn sẽ họp và thống nhất nội dung thực hiện, sau đó là nhờ các khoa của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM xem, góp ý và phản biện”, ông Thái nói thêm.
Xem lại cách thực hiện
Nhiều ý kiến đồng tình nhưng cũng có chuyên gia cho rằng cách thí điểm như hiện nay khó lòng mang lại kết quả tích cực.
Ông Lâm Triều Nghi, Hiệu trưởng Trường chuyên Trần Đại Nghĩa TP.HCM, cho biết: “Chúng tôi cũng có dự một buổi họp về chương trình này. Về chương trình, tôi cho rằng rất tích cực. Song về cách làm thì nên xem xét lại để đạt được tính hiệu quả”. Theo ông Nghi, hiện nay mỗi đơn vị làm mỗi kiểu thì khó lòng tìm được tiếng nói chung.
Lãnh đạo nhiều trường THPT ở TP.HCM cũng cho rằng vấn đề hiện nay là tuy giao cho các trường chủ động chương trình, nhưng cách làm của mỗi nơi mỗi khác. Hơn nữa, có thể xảy ra tình trạng giáo viên ở trường này cho rằng nội dung A cần bỏ, thêm nội dung B nhưng đơn vị khác thì ngược lại.
“Cái khó hiện nay là chúng ta vẫn thi cử theo kiểu cũ. Vậy thì giáo viên chỉ có thể thêm chứ không dám bớt nội dung dù đó là những kiến thức xa rời thực tế. Bởi vì nếu đề thi tốt nghiệp THPT hoặc ĐH có câu hỏi rơi vào phần mà giáo viên tự “giảm tải” thì làm sao?”, lãnh đạo một trường THPT tại TP.HCM băn khoăn.
Ngoài ra, do triển khai chương trình khá gấp nên sau gần hết học kỳ 1, các tổ bộ môn vẫn chưa thể làm được gì nhiều. Theo ông Lê Thành Thái thì khoảng tháng 6.2013 trường được tập huấn, rồi đến tháng 9.2013 thì áp dụng luôn.
Bà Đặng Thị Chiếu Huyền, giáo viên môn địa Trường trung học Thực hành sư phạm (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM), cho biết: “Hiện tại, đối với các bài có liên quan đến môn khác hoặc khối khác, giáo viên thường hỏi nhau để nắm thông tin là học sinh đã được dạy những gì và từ đó có thể không dạy lại hoặc bổ sung thêm. Phải hết học kỳ 1, chúng tôi mới có thống kê và đánh giá cụ thể”.
Các đơn vị thực hiện thí điểm
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và Trường THCS-THPT Nguyễn Tất Thành thuộc trường ĐH này
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM và Trường THPT Thực hành thuộc trường ĐH này
Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên và Trường THPT Thái Nguyên thuộc trường ĐH này
Trường phổ thông vùng cao Việt Bắc (tỉnh Thái Nguyên)
Trường ĐH Vinh và Trường THPT chuyên thuộc Trường ĐH Vinh
Trường THPT Lê Viết Thuật (Nghệ An)
Khoa Sư phạm Trường ĐH Cần Thơ và Trường THPT Thực hành thuộc trường ĐH này
Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và các trường phổ thông cơ sở thực nghiệm, Trường THPT thực nghiệm thuộc viện này.
Học sinh Trường trung học Thực hành (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM), một trong những trường thí điểm chương trình “Phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông”
Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Giáo viên tự chủ thiết kế chương trình
Mục tiêu của chương trình là khuyến khích các trường tham gia hoạt động thí điểm phát triển chương trình giáo dục trường phổ thông như điều chỉnh cấu trúc nội dung dạy học, xây dựng kế hoạch giáo dục trong từng môn học, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới kiểm tra đánh giá...
Ông Lê Thành Thái, Hiệu trưởng Trường trung học Thực hành (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM), cho rằng đây là chương trình hay, nhằm chuẩn bị cho chương trình sách giáo khoa mới sau năm 2015. Giáo viên sẽ tự chủ chương trình, có thể lược bỏ các kiến thức hàn lâm, nhiều tính lý luận hoặc thêm vào những kiến thức cần thiết cho chương trình. Nhờ vậy, giáo viên bộ môn sẽ biết học sinh mình cần kiến thức gì, ngán nội dung nào… mà có những điều chỉnh hợp lý. “Tôi cho rằng, cách làm này rất có lợi cho người học. Về lâu về dài sẽ thể hiện được tính tích cực trong dạy và học ở bậc THPT”, ông Thái nhận định.
Ngoài việc tự chủ chương trình, ở các trường đang thí điểm còn có được lợi thế là đều trực thuộc các trường ĐH có khối ngành sư phạm. Vì thế việc thêm, bớt nội dung kiến thức trong quá trình giảng dạy sẽ được các khoa sư phạm liên quan phản biện để đạt tính khoa học cao. “Chúng tôi giao toàn quyền về việc chủ động chương trình cho các tổ bộ môn. Tổ bộ môn sẽ họp và thống nhất nội dung thực hiện, sau đó là nhờ các khoa của Trường ĐH Sư phạm TP.HCM xem, góp ý và phản biện”, ông Thái nói thêm.
Xem lại cách thực hiện
Nhiều ý kiến đồng tình nhưng cũng có chuyên gia cho rằng cách thí điểm như hiện nay khó lòng mang lại kết quả tích cực.
Ông Lâm Triều Nghi, Hiệu trưởng Trường chuyên Trần Đại Nghĩa TP.HCM, cho biết: “Chúng tôi cũng có dự một buổi họp về chương trình này. Về chương trình, tôi cho rằng rất tích cực. Song về cách làm thì nên xem xét lại để đạt được tính hiệu quả”. Theo ông Nghi, hiện nay mỗi đơn vị làm mỗi kiểu thì khó lòng tìm được tiếng nói chung.
Lãnh đạo nhiều trường THPT ở TP.HCM cũng cho rằng vấn đề hiện nay là tuy giao cho các trường chủ động chương trình, nhưng cách làm của mỗi nơi mỗi khác. Hơn nữa, có thể xảy ra tình trạng giáo viên ở trường này cho rằng nội dung A cần bỏ, thêm nội dung B nhưng đơn vị khác thì ngược lại.
“Cái khó hiện nay là chúng ta vẫn thi cử theo kiểu cũ. Vậy thì giáo viên chỉ có thể thêm chứ không dám bớt nội dung dù đó là những kiến thức xa rời thực tế. Bởi vì nếu đề thi tốt nghiệp THPT hoặc ĐH có câu hỏi rơi vào phần mà giáo viên tự “giảm tải” thì làm sao?”, lãnh đạo một trường THPT tại TP.HCM băn khoăn.
Ngoài ra, do triển khai chương trình khá gấp nên sau gần hết học kỳ 1, các tổ bộ môn vẫn chưa thể làm được gì nhiều. Theo ông Lê Thành Thái thì khoảng tháng 6.2013 trường được tập huấn, rồi đến tháng 9.2013 thì áp dụng luôn.
Bà Đặng Thị Chiếu Huyền, giáo viên môn địa Trường trung học Thực hành sư phạm (Trường ĐH Sư phạm TP.HCM), cho biết: “Hiện tại, đối với các bài có liên quan đến môn khác hoặc khối khác, giáo viên thường hỏi nhau để nắm thông tin là học sinh đã được dạy những gì và từ đó có thể không dạy lại hoặc bổ sung thêm. Phải hết học kỳ 1, chúng tôi mới có thống kê và đánh giá cụ thể”.
Các đơn vị thực hiện thí điểm
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội và Trường THCS-THPT Nguyễn Tất Thành thuộc trường ĐH này
Trường ĐH Sư phạm TP.HCM và Trường THPT Thực hành thuộc trường ĐH này
Trường ĐH Sư phạm Thái Nguyên và Trường THPT Thái Nguyên thuộc trường ĐH này
Trường phổ thông vùng cao Việt Bắc (tỉnh Thái Nguyên)
Trường ĐH Vinh và Trường THPT chuyên thuộc Trường ĐH Vinh
Trường THPT Lê Viết Thuật (Nghệ An)
Khoa Sư phạm Trường ĐH Cần Thơ và Trường THPT Thực hành thuộc trường ĐH này
Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và các trường phổ thông cơ sở thực nghiệm, Trường THPT thực nghiệm thuộc viện này.
Minh Luân
Chỉ có ở Việt Nam
Hàng loạt quy định về giáo dục - đào tạo không những thiếu khả thi mà còn chỏi nhau khiến người thực hiện chỉ có cách duy nhất là phải làm ngược.
Có những quy định hầu như không thể thực hiện được trong thực tế. Còn nếu buộc phải làm thì chỉ có cách lách hoặc chịu phạt.
Không thực tế
Thông tư 24 ban hành ngày 4.7.2013 bổ sung 7 đối tượng vào diện ưu tiên tuyển sinh ĐH, CĐ chính quy. Trong đó, có 3 đối tượng gây nhiều tranh cãi trong dư luận, gồm: bà mẹ Việt Nam anh hùng, người hoạt động cách mạng trước ngày 1.1.1945, người hoạt động cách mạng từ ngày 1.1.1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Mọi người không bàn cãi về tính đúng sai của quy định này mà chỉ buồn cười về tính khả thi. Bởi thực tế rất khó tìm ra người thuộc các đối tượng ưu tiên bổ sung này còn đi thi ĐH, CĐ. Trước phản ứng mạnh mẽ của dư luận, chỉ hơn một tuần sau đó, Bộ lại ban hành thông tư mới bãi bỏ 3 đối tượng được ưu tiên quy định tại thông tư trên mặc dù thời hạn Thông tư 24 có hiệu lực chưa bắt đầu (vào ngày 19.8.2013).
Thông tư 28 do Bộ GD-ĐT ban hành ngày 21.10.2009 về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, bắt hiệu trưởng phải dạy 2 tiết/tuần. Tuy nhiên, theo hiệu trưởng nhiều trường tại TP.HCM, không ai thực hiện được điều này. “Thường một hiệu trưởng làm việc cả ngày 12 giờ nhưng chưa chắc đã hết việc. Đã vậy, còn phải liên tục tham gia các cuộc họp địa phương nên khó lòng đứng lớp cố định. Do vậy, ban giám hiệu thường đối phó bằng những hoạt động ngoài giờ lên lớp”, lãnh đạo một trường tiểu học cho biết.
Quy định về diện tích đất/sinh viên là một trong những điều các trường ĐH rất khó thực hiện được trong bối cảnh hiện nay. Nhưng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sát nhập, chia, tách, giải thể trường ĐH đã bắt buộc: "Thực hiện mức bình quân tối thiểu diện tích 25 m2/sinh viên tính tại thời điểm trường có quy mô đào tạo cao nhất trong kế hoạch đào tạo giai đoạn 10 năm đầu sau khi thành lập".
Theo khảo sát của Bộ GD-ĐT, các trường đóng tại Hà Nội (trừ ĐH Quốc gia và các trường CĐ đóng tại Hà Tây cũ), bình quân số diện tích đất/sinh viên chỉ khoảng 13 m2. Trong đó có tới 40% trường chỉ đạt mức dưới 5 m2/sinh viên. Nhiều trường ĐH lớn như: Xây dựng, Ngoại thương, Kinh tế quốc dân, Bách khoa Hà Nội cũng nằm trong số đó. Tại TP.HCM, con số này chỉ 10 m2, trong đó có khoảng 30% số trường thấp dưới 5 m2.
Trong báo cáo về kế hoạch ngân sách năm 2013, Bộ GD-ĐT cũng thừa nhận nếu đúng theo quy định thì trong số 35 trường ĐH trực thuộc Bộ chỉ có 9 trường đạt tiêu chuẩn.
Cấm rồi lại cho
Luật Giáo dục ban hành năm 2005 chỉ cho phép các trường ĐH đào tạo từ bậc CĐ trở lên, thế nhưng Bộ lại cho phép các trường ĐH đào tạo TCCN thậm chí là trung cấp nghề. Việc cho phép các trường đào tạo như vậy khiến trường TCCN khó tuyển sinh và không có cơ hội phát triển. Điều này cũng dẫn đến thực trạng khó tin là trường ĐH, CĐ lại đào tạo chủ yếu bậc TCCN! Theo thống kê của Bộ, vào năm 2011 các trường ĐH, CĐ đã đào tạo tới 60% tổng chỉ tiêu TCCN, trong khi các trường TCCN chỉ có 40%.
Năm 2010, sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện kiểm tra, giám sát đã lên tiếng cảnh báo tình trạng này. Đến tháng 12.2011, Bộ đã ban hành Thông tư 57 về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, trong đó không cho phép các trường ĐH đào tạo TCCN. Tuy nhiên, thông tư vừa mới triển khai thực hiện thì đến tháng 6.2012, Bộ lại cho phép các trường ĐH được tiếp tục đào tạo TCCN giảm dần đến năm… 2017 để các trường có lộ trình thực hiện (!?). Trong khi đó, tháng 6 năm nay khi ban hành quyết định điều chỉnh mạng lưới các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2006 - 2020, Chính phủ đã đưa ra chủ trương: “Tiếp tục thành lập mới các trường TCCN và mở rộng các chương trình đào tạo TCCN trong các trường CĐ, CĐ cộng đồng...”. Với tình hình thực tế như đã nêu thì chủ trương này liệu có thực hiện được không khi các trường TCCN ngày càng khó tồn tại?
Chặt mà lỏng
Thông tư 57 về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh và Thông tư 08 về mở ngành đào tạo là 2 văn bản quan trọng mà Bộ cho là đã siết chặt quản lý để nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, cả hai thông tư này đều có những khoảng trống để các trường có thể gian lận khi thực hiện.
Trong Thông tư 57 ban hành tháng 11.2011, Bộ đưa ra tiêu chí để đảm bảo chất lượng là tỷ lệ sinh viên/giảng viên. Tuy nhiên, cách tính tiêu chí này lại quá lỏng. Chẳng hạn Bộ cho phép lấy tổng quy mô đào tạo hệ chính quy của cơ sở đào tạo chia cho tổng số giáo viên, giảng viên quy đổi để xác định tổng chỉ tiêu tuyển sinh. Như vậy, Bộ đã không kiểm soát số sinh viên/giảng viên theo từng ngành học, trong khi đây mới là tiêu chí để đảm bảo chất lượng. Ngoài ra, việc các trường được tự phân chia chỉ tiêu cho từng ngành dẫn đến tình trạng có những ngành số sinh viên/giảng viên rất cao, không thể đảm bảo chất lượng đào tạo như y - dược, tài chính - ngân hàng.
Quy định về mở ngành cũng có những bất cập dẫn đến việc có những ngành học mở quá dễ dãi. Ví dụ y - dược là ngành học đặc thù, quá trình đào tạo phải gắn với các cơ sở thực hành. Đồng thời ngành học này đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo cũng phải có kiến thức chuyên môn về ngành y. Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều trường đào tạo đa ngành, trường vừa mới thành lập không đủ điều kiện đào tạo y - dược cũng được mở ngành. Theo quy định của Bộ, việc thẩm định các điều kiện mở ngành được giao cho sở GD-ĐT, trong khi đơn vị này không có chuyên môn, không thể nắm được cơ sở vật chất thế nào thì đạt yêu cầu...
Ông Nguyễn Minh Lợi - Phó cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và đào tạo (Bộ Y tế), cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đào tạo ngành y - dược kém chất lượng là do việc mở ngành đào tạo không có sự tham gia thẩm định của các chuyên gia y tế.
Triển khai quá chậm
Phát biểu tại một hội nghị về giáo dục tại TP.HCM, ông Trịnh Ngọc Thạch, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, cho rằng tiến độ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục - đào tạo nói chung còn chậm so với yêu cầu.
Chính sách thâm niên nhà giáo được quy định trong Nghị quyết 35/2009 nhưng phải sau hơn 2 năm mới ban hành Nghị định 54/2011. Quyết định 85/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú (ngày 21.12.2010) nhưng đến 22.12.2011 liên Bộ GD-ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch - Đầu tư mới có Thông tư liên tịch số 65/2011 hướng dẫn thực hiện.
Có những quy định hầu như không thể thực hiện được trong thực tế. Còn nếu buộc phải làm thì chỉ có cách lách hoặc chịu phạt.
Không thực tế
Thông tư 24 ban hành ngày 4.7.2013 bổ sung 7 đối tượng vào diện ưu tiên tuyển sinh ĐH, CĐ chính quy. Trong đó, có 3 đối tượng gây nhiều tranh cãi trong dư luận, gồm: bà mẹ Việt Nam anh hùng, người hoạt động cách mạng trước ngày 1.1.1945, người hoạt động cách mạng từ ngày 1.1.1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Mọi người không bàn cãi về tính đúng sai của quy định này mà chỉ buồn cười về tính khả thi. Bởi thực tế rất khó tìm ra người thuộc các đối tượng ưu tiên bổ sung này còn đi thi ĐH, CĐ. Trước phản ứng mạnh mẽ của dư luận, chỉ hơn một tuần sau đó, Bộ lại ban hành thông tư mới bãi bỏ 3 đối tượng được ưu tiên quy định tại thông tư trên mặc dù thời hạn Thông tư 24 có hiệu lực chưa bắt đầu (vào ngày 19.8.2013).
Thông tư 28 do Bộ GD-ĐT ban hành ngày 21.10.2009 về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông, bắt hiệu trưởng phải dạy 2 tiết/tuần. Tuy nhiên, theo hiệu trưởng nhiều trường tại TP.HCM, không ai thực hiện được điều này. “Thường một hiệu trưởng làm việc cả ngày 12 giờ nhưng chưa chắc đã hết việc. Đã vậy, còn phải liên tục tham gia các cuộc họp địa phương nên khó lòng đứng lớp cố định. Do vậy, ban giám hiệu thường đối phó bằng những hoạt động ngoài giờ lên lớp”, lãnh đạo một trường tiểu học cho biết.
Quy định về diện tích đất/sinh viên là một trong những điều các trường ĐH rất khó thực hiện được trong bối cảnh hiện nay. Nhưng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều kiện và thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sát nhập, chia, tách, giải thể trường ĐH đã bắt buộc: "Thực hiện mức bình quân tối thiểu diện tích 25 m2/sinh viên tính tại thời điểm trường có quy mô đào tạo cao nhất trong kế hoạch đào tạo giai đoạn 10 năm đầu sau khi thành lập".
Theo khảo sát của Bộ GD-ĐT, các trường đóng tại Hà Nội (trừ ĐH Quốc gia và các trường CĐ đóng tại Hà Tây cũ), bình quân số diện tích đất/sinh viên chỉ khoảng 13 m2. Trong đó có tới 40% trường chỉ đạt mức dưới 5 m2/sinh viên. Nhiều trường ĐH lớn như: Xây dựng, Ngoại thương, Kinh tế quốc dân, Bách khoa Hà Nội cũng nằm trong số đó. Tại TP.HCM, con số này chỉ 10 m2, trong đó có khoảng 30% số trường thấp dưới 5 m2.
Trong báo cáo về kế hoạch ngân sách năm 2013, Bộ GD-ĐT cũng thừa nhận nếu đúng theo quy định thì trong số 35 trường ĐH trực thuộc Bộ chỉ có 9 trường đạt tiêu chuẩn.
Cấm rồi lại cho
Luật Giáo dục ban hành năm 2005 chỉ cho phép các trường ĐH đào tạo từ bậc CĐ trở lên, thế nhưng Bộ lại cho phép các trường ĐH đào tạo TCCN thậm chí là trung cấp nghề. Việc cho phép các trường đào tạo như vậy khiến trường TCCN khó tuyển sinh và không có cơ hội phát triển. Điều này cũng dẫn đến thực trạng khó tin là trường ĐH, CĐ lại đào tạo chủ yếu bậc TCCN! Theo thống kê của Bộ, vào năm 2011 các trường ĐH, CĐ đã đào tạo tới 60% tổng chỉ tiêu TCCN, trong khi các trường TCCN chỉ có 40%.
Rất đông sinh viên nộp hồ sơ học TCCN tại Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM
Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Năm 2010, sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện kiểm tra, giám sát đã lên tiếng cảnh báo tình trạng này. Đến tháng 12.2011, Bộ đã ban hành Thông tư 57 về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh, trong đó không cho phép các trường ĐH đào tạo TCCN. Tuy nhiên, thông tư vừa mới triển khai thực hiện thì đến tháng 6.2012, Bộ lại cho phép các trường ĐH được tiếp tục đào tạo TCCN giảm dần đến năm… 2017 để các trường có lộ trình thực hiện (!?). Trong khi đó, tháng 6 năm nay khi ban hành quyết định điều chỉnh mạng lưới các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2006 - 2020, Chính phủ đã đưa ra chủ trương: “Tiếp tục thành lập mới các trường TCCN và mở rộng các chương trình đào tạo TCCN trong các trường CĐ, CĐ cộng đồng...”. Với tình hình thực tế như đã nêu thì chủ trương này liệu có thực hiện được không khi các trường TCCN ngày càng khó tồn tại?
Chặt mà lỏng
Thông tư 57 về việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh và Thông tư 08 về mở ngành đào tạo là 2 văn bản quan trọng mà Bộ cho là đã siết chặt quản lý để nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, cả hai thông tư này đều có những khoảng trống để các trường có thể gian lận khi thực hiện.
Trong Thông tư 57 ban hành tháng 11.2011, Bộ đưa ra tiêu chí để đảm bảo chất lượng là tỷ lệ sinh viên/giảng viên. Tuy nhiên, cách tính tiêu chí này lại quá lỏng. Chẳng hạn Bộ cho phép lấy tổng quy mô đào tạo hệ chính quy của cơ sở đào tạo chia cho tổng số giáo viên, giảng viên quy đổi để xác định tổng chỉ tiêu tuyển sinh. Như vậy, Bộ đã không kiểm soát số sinh viên/giảng viên theo từng ngành học, trong khi đây mới là tiêu chí để đảm bảo chất lượng. Ngoài ra, việc các trường được tự phân chia chỉ tiêu cho từng ngành dẫn đến tình trạng có những ngành số sinh viên/giảng viên rất cao, không thể đảm bảo chất lượng đào tạo như y - dược, tài chính - ngân hàng.
Quy định về mở ngành cũng có những bất cập dẫn đến việc có những ngành học mở quá dễ dãi. Ví dụ y - dược là ngành học đặc thù, quá trình đào tạo phải gắn với các cơ sở thực hành. Đồng thời ngành học này đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo cũng phải có kiến thức chuyên môn về ngành y. Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều trường đào tạo đa ngành, trường vừa mới thành lập không đủ điều kiện đào tạo y - dược cũng được mở ngành. Theo quy định của Bộ, việc thẩm định các điều kiện mở ngành được giao cho sở GD-ĐT, trong khi đơn vị này không có chuyên môn, không thể nắm được cơ sở vật chất thế nào thì đạt yêu cầu...
Ông Nguyễn Minh Lợi - Phó cục trưởng Cục Khoa học công nghệ và đào tạo (Bộ Y tế), cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến việc đào tạo ngành y - dược kém chất lượng là do việc mở ngành đào tạo không có sự tham gia thẩm định của các chuyên gia y tế.
Triển khai quá chậm
Phát biểu tại một hội nghị về giáo dục tại TP.HCM, ông Trịnh Ngọc Thạch, Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, cho rằng tiến độ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục - đào tạo nói chung còn chậm so với yêu cầu.
Chính sách thâm niên nhà giáo được quy định trong Nghị quyết 35/2009 nhưng phải sau hơn 2 năm mới ban hành Nghị định 54/2011. Quyết định 85/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú (ngày 21.12.2010) nhưng đến 22.12.2011 liên Bộ GD-ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch - Đầu tư mới có Thông tư liên tịch số 65/2011 hướng dẫn thực hiện.
Nguồn: Minh Luân - Bích Thanh - Vũ Thơ - Hà Ánh
Điều chỉnh chương trình để phân luồng cho ngành giáo dục
Hỏi: Phân luồng giáo dục có giống thế này không?
PGS-TS Vũ Trọng Rỹ - PGS-TS Trần Kiều (Viện Khoa học giáo dục Việt Nam): Xây dựng chương trình theo hướng “tiếp cận năng lực”
Cơ cấu này trên thực tế không tạo điều kiện cho phân luồng học sinh, góp phần gia tăng sự mất cân đối trong cơ cấu lao động (thừa thầy, thiếu thợ). Cơ cấu giáo dục hiện nay cùng với cách tổ chức nội dung chương trình không thể nào khắc phục được tình trạng quá tải cho học sinh.
Để học sinh có nền tảng về giáo dục phổ thông, nên thiết kế lại.
Giai đoạn 1 là giai đoạn giáo dục cơ sở mang tính bắt buộc gồm 10 năm nhằm trang bị cho học sinh học vấn cốt lõi cho người sống trong xã hội hiện đại, qua đó hình thành phẩm chất, năng lực của học sinh. Bậc học này cơ bản mọi học sinh được học tập giống nhau.
Giai đoạn 2 kéo dài hai năm (giai đoạn sau giáo dục cơ sở) chuẩn bị cho học sinh học lên cao đẳng hoặc đại học. Tùy theo năng lực, sở thích, học sinh được chọn các môn học, học phần phù hợp. Chương trình cho giai đoạn này phải mềm dẻo để thỏa mãn mọi nhu cầu lựa chọn của người học, nhằm chuẩn bị kiến thức, kỹ năng gần với sự lựa chọn nghề nghiệp tương lai của mình.
Với cấu trúc trên, cần xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực. Năng lực ở đây bao hàm cả kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, không những thế còn có cả động cơ, đạo đức và hành vi xã hội. Các năng lực hình thành trong quá trình dạy học trong nhà trường và tác động từ gia đình, xã hội. Nếu trước đây chương trình giáo dục phổ thông mới chỉ chú trọng đến việc cung cấp kiến thức thì chương trình mới cần được xây dựng theo hướng chú trọng nhiều hơn đến việc tiến hành các biện pháp, cách thức hoạt động, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, khơi dậy khả năng tìm kiếm, giải quyết vấn đề của người học...
GS Văn Như Cương: “Cần giảm mạnh khối lượng kiến thức văn hóa ở tất cả các môn học”
Cần phải điều chỉnh chương trình giáo dục phổ thông theo cách giảm mạnh kiến thức văn hóa trong tất cả các môn học: toán, lý, hóa, sinh, sử, địa..., chỉ giữ lại những gì hết sức cơ bản, cần thiết và phổ thông. Chẳng hạn môn toán ở phổ thông không cần học tích phân, số phức, không cần phải làm những bài toán phức tạp về phương trình lượng giác hoặc hình học không gian. Tất cả những người không theo đuổi con đường toán học ở bậc cao hơn đều không cần đến những kiến thức kể trên.
Chương trình của chúng ta hiện nay thật sự quá tải. Trong khi chủ trương giảm tải của Bộ GD-ĐT có thể nói là hoàn toàn thất bại.
Cùng với việc giảm lượng kiến thức không cần thiết, cần tăng cường thích đáng về thời lượng và chất lượng các môn học làm người: thái độ và kỹ năng sống, biết giao tiếp và hòa nhập, thân thiện với môi trường, biết lao động và quý trọng lao động, biết rèn luyện và giữ gìn sức khỏe, biết thưởng thức và cảm thụ nghệ thuật một cách lành mạnh.
Cấu trúc hệ thống giáo dục phổ thông cần đổi mới để phân hóa mạnh mẽ hơn. Chủ trương phân ban của Bộ GD-ĐT trên thực tế đã thất bại. Việc phân luồng, định hướng cho học sinh không mang lại kết quả nào.
Chương trình đổi mới cần điều chỉnh theo hướng cấp tiểu học và THCS chỉ có một chương trình, cấp THPT phân hai nhánh, một nhánh tạm gọi là THPT, nhánh kia là trung học dạy nghề. Nhánh THPT đào tạo những học sinh sau khi tốt nghiệp có thể thi vào các trường ĐH. Chương trình gồm năm môn bắt buộc: toán, tiếng Việt, ngoại ngữ, GDCD, giáo dục thể chất. Ngoài ra có các môn tự chọn: lý, hóa, sinh, sử, địa, ngoại ngữ 2, ngoại ngữ 3 và các chuyên đề tự chọn. Mỗi học sinh có thể chọn ba môn tự chọn và một chuyên đề tự chọn. Nhánh trung học dạy nghề đào tạo cho học sinh sau khi tốt nghiệp có một nghề. Học sinh có thể ra làm nghề hoặc học liên thông lên cao đẳng nghề hoặc TCCN.
Nguồn: T.T.
Bộ cần nghĩ tới việc tạo công bằng cho giáo viên
“Năm 2010 giáo viên sẽ sống được bằng lương” là lời hứa mà đến nay vẫn chưa thực hiện được. Điều đó cũng góp phần làm cho niềm tin của giáo giới ngày thêm giảm sút.
Số liệu của Bộ GD-ĐT cho biết cả nước hiện có trên 1,1 triệu giáo viên các cấp. Theo GS Nguyễn Xuân Hãn, lương giáo viên hiện xếp hàng thứ 14 trong các ngành nghề. Thu nhập bình quân theo lương và phụ cấp kèm theo của giáo viên khoảng 3-3,5 triệu đồng/tháng/người. Giáo viên có thâm niên công tác từ 13 năm trở lên đến sau 25 năm, lương và phụ cấp khoảng 3,5 - gần 5 triệu đồng/tháng/người. Còn giáo viên mới ra nghề chỉ nhận mức lương trên dưới 2 triệu đồng/tháng.
Giải pháp số 1
Cũng theo số liệu khảo sát của Hội Cựu giáo chức VN, số giáo viên có thâm niên trên 13 năm hiện nay chỉ chiếm 50%. Như vậy cũng có nghĩa chỉ có khoảng nửa triệu giáo viên được hưởng mức lương trên bình quân, còn lại hưởng lương dưới mức bình quân. Mà theo GS Hoàng Tụy so sánh, mức lương đó nhân đôi vẫn chưa tới “ngưỡng” mà Quốc hội xem xét để phải đóng thuế thu nhập. GS Hoàng Tụy đưa vấn đề cải thiện chính sách lương cho giáo viên là giải pháp số 1 trong đề cương cải cách mới nhất của ông.
Theo GS Vũ Hoan, chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội, phải kiểm tra nghiêm túc toàn bộ vấn đề đầu tư, chi tiêu ngân sách nhà nước và đóng góp của dân cho giáo dục nhằm xây dựng một cơ chế phân bổ minh bạch và quản lý vốn đầu tư từ các nguồn khác nhau cho giáo dục. Trên cơ sở này xây dựng chính sách lương cho nhà giáo. “Cần tách lương giáo viên ra khỏi hệ thống lương hành chính sự nghiệp” - GS Hoan nhấn mạnh.
Xứng đáng và công bằng
PGS Vũ Trọng Rỹ, Viện Nghiên cứu giáo dục VN, cho rằng ngoài bất hợp lý về lương có nhiều vấn đề khác cần được thay đổi và cải thiện. Đơn cử như việc cần điều chỉnh quy định về số giờ lao động của giáo viên vì hiện nay theo quy định này, giờ lao động của giáo viên nói chung vượt quá giờ lao động quy định trong Luật lao động. Chính sách bồi dưỡng giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên học nâng cao trình độ chưa được quan tâm. Chính sách khen thưởng cũng cần điều chỉnh bất cập khi danh hiệu thi đua chủ yếu dành cho cán bộ quản lý, không khuyến khích đông đảo giáo viên. Công tác quản lý giáo viên cần khắc phục tình trạng thiếu dân chủ, không phát huy tinh thần tự chủ của giáo viên. Cần để cho giáo viên được tham gia quá trình ra quyết định của các cấp quản lý.
PGS Khổng Doãn Điền, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội, đề xuất trong việc thay đổi chính sách đãi ngộ và sử dụng nhà giáo phải quan tâm tới yếu tố công bằng. Những năm đất nước còn khó khăn, đời sống nhà giáo còn thiếu thốn hơn hiện nay nhưng vẫn nhiều người tâm huyết, tận tụy với giáo dục. Còn hiện nay, tâm huyết của nhà giáo giảm sút do niềm tin giảm sút. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc này là sự thiếu công bằng trong tuyển dụng, đãi ngộ và quản lý giáo viên. Tình trạng người nhận lương cao nhưng lao động bỏ ra không xứng đáng, người được công nhận danh hiệu, được thăng chức, có học hàm, học vị cao nhưng không xứng đáng, đối nghịch với đó là những người lao động, cống hiến thầm lặng không được biết đến, coi trọng. Điều này tồn tại, kéo dài sẽ khiến nhà giáo không còn tâm huyết. Ngày càng ít người muốn gắn bó với nghề bằng lối sống đạo đức trong sạch.
Cần hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc chế độ đầu vào giáo viên, tuyển giáo viên nghiêm ngặt. Nhà nước ban hành tiêu chuẩn tư cách giáo viên, xác định rõ tiêu chuẩn quá trình học tập khi nhậm chức của giáo viên và yêu cầu về đạo đức phẩm chất giáo viên; tăng cường quản lý giáo viên, hoàn thiện cơ chế cho ra khỏi ngành đối với giáo viên không đủ năng lực dạy học.
Đối với các vùng khó khăn, phải hoàn thiện chính sách tạo nguồn tuyển sinh sư phạm cho người dân tộc thiểu số và người ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa; ban hành và triển khai quy định về nghĩa vụ của giáo sinh sau khi ra trường phải theo sự điều động của Nhà nước để góp phần khắc phục thiếu hụt về giáo viên ở các vùng khó khăn.
Về chính sách đãi ngộ với giáo viên, cần đảm bảo mức lương bình quân của giáo viên cao hơn hoặc không thấp hơn mức lương bình quân của nhân viên công vụ nhà nước và từng bước nâng cao lên. Thực hiện việc trả lương theo hiệu quả công việc, thành tích công tác. Giáo viên cộng tác lâu dài ở cơ sở nông thôn và vùng sâu, vùng xa khó khăn, cần thực hiện chính sách ưu tiên về tiền lương, chức vụ, chức danh. Ban hành các chính sách ưu đãi về nhà ở giáo viên, chính sách chữa bệnh dưỡng lão cho giáo viên. Nhà nước khen thưởng cho giáo viên dạy học lâu dài ở vùng nông thôn, vùng khó khăn có cống hiến nổi bật.
Các ứng viên trúng tuyển nhận giấy giới thiệu phân công nhiệm sở sáng 28-8-2012
do Sở GD-ĐT TP.HCM tổ chức
Ảnh: NHƯ HÙNG
Số liệu của Bộ GD-ĐT cho biết cả nước hiện có trên 1,1 triệu giáo viên các cấp. Theo GS Nguyễn Xuân Hãn, lương giáo viên hiện xếp hàng thứ 14 trong các ngành nghề. Thu nhập bình quân theo lương và phụ cấp kèm theo của giáo viên khoảng 3-3,5 triệu đồng/tháng/người. Giáo viên có thâm niên công tác từ 13 năm trở lên đến sau 25 năm, lương và phụ cấp khoảng 3,5 - gần 5 triệu đồng/tháng/người. Còn giáo viên mới ra nghề chỉ nhận mức lương trên dưới 2 triệu đồng/tháng.
Giải pháp số 1
Cũng theo số liệu khảo sát của Hội Cựu giáo chức VN, số giáo viên có thâm niên trên 13 năm hiện nay chỉ chiếm 50%. Như vậy cũng có nghĩa chỉ có khoảng nửa triệu giáo viên được hưởng mức lương trên bình quân, còn lại hưởng lương dưới mức bình quân. Mà theo GS Hoàng Tụy so sánh, mức lương đó nhân đôi vẫn chưa tới “ngưỡng” mà Quốc hội xem xét để phải đóng thuế thu nhập. GS Hoàng Tụy đưa vấn đề cải thiện chính sách lương cho giáo viên là giải pháp số 1 trong đề cương cải cách mới nhất của ông.
Theo GS Vũ Hoan, chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội, phải kiểm tra nghiêm túc toàn bộ vấn đề đầu tư, chi tiêu ngân sách nhà nước và đóng góp của dân cho giáo dục nhằm xây dựng một cơ chế phân bổ minh bạch và quản lý vốn đầu tư từ các nguồn khác nhau cho giáo dục. Trên cơ sở này xây dựng chính sách lương cho nhà giáo. “Cần tách lương giáo viên ra khỏi hệ thống lương hành chính sự nghiệp” - GS Hoan nhấn mạnh.
Xứng đáng và công bằng
PGS Vũ Trọng Rỹ, Viện Nghiên cứu giáo dục VN, cho rằng ngoài bất hợp lý về lương có nhiều vấn đề khác cần được thay đổi và cải thiện. Đơn cử như việc cần điều chỉnh quy định về số giờ lao động của giáo viên vì hiện nay theo quy định này, giờ lao động của giáo viên nói chung vượt quá giờ lao động quy định trong Luật lao động. Chính sách bồi dưỡng giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên học nâng cao trình độ chưa được quan tâm. Chính sách khen thưởng cũng cần điều chỉnh bất cập khi danh hiệu thi đua chủ yếu dành cho cán bộ quản lý, không khuyến khích đông đảo giáo viên. Công tác quản lý giáo viên cần khắc phục tình trạng thiếu dân chủ, không phát huy tinh thần tự chủ của giáo viên. Cần để cho giáo viên được tham gia quá trình ra quyết định của các cấp quản lý.
PGS Khổng Doãn Điền, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Hà Nội, đề xuất trong việc thay đổi chính sách đãi ngộ và sử dụng nhà giáo phải quan tâm tới yếu tố công bằng. Những năm đất nước còn khó khăn, đời sống nhà giáo còn thiếu thốn hơn hiện nay nhưng vẫn nhiều người tâm huyết, tận tụy với giáo dục. Còn hiện nay, tâm huyết của nhà giáo giảm sút do niềm tin giảm sút. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc này là sự thiếu công bằng trong tuyển dụng, đãi ngộ và quản lý giáo viên. Tình trạng người nhận lương cao nhưng lao động bỏ ra không xứng đáng, người được công nhận danh hiệu, được thăng chức, có học hàm, học vị cao nhưng không xứng đáng, đối nghịch với đó là những người lao động, cống hiến thầm lặng không được biết đến, coi trọng. Điều này tồn tại, kéo dài sẽ khiến nhà giáo không còn tâm huyết. Ngày càng ít người muốn gắn bó với nghề bằng lối sống đạo đức trong sạch.
Cần hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc chế độ đầu vào giáo viên, tuyển giáo viên nghiêm ngặt. Nhà nước ban hành tiêu chuẩn tư cách giáo viên, xác định rõ tiêu chuẩn quá trình học tập khi nhậm chức của giáo viên và yêu cầu về đạo đức phẩm chất giáo viên; tăng cường quản lý giáo viên, hoàn thiện cơ chế cho ra khỏi ngành đối với giáo viên không đủ năng lực dạy học.
Đối với các vùng khó khăn, phải hoàn thiện chính sách tạo nguồn tuyển sinh sư phạm cho người dân tộc thiểu số và người ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa; ban hành và triển khai quy định về nghĩa vụ của giáo sinh sau khi ra trường phải theo sự điều động của Nhà nước để góp phần khắc phục thiếu hụt về giáo viên ở các vùng khó khăn.
Về chính sách đãi ngộ với giáo viên, cần đảm bảo mức lương bình quân của giáo viên cao hơn hoặc không thấp hơn mức lương bình quân của nhân viên công vụ nhà nước và từng bước nâng cao lên. Thực hiện việc trả lương theo hiệu quả công việc, thành tích công tác. Giáo viên cộng tác lâu dài ở cơ sở nông thôn và vùng sâu, vùng xa khó khăn, cần thực hiện chính sách ưu tiên về tiền lương, chức vụ, chức danh. Ban hành các chính sách ưu đãi về nhà ở giáo viên, chính sách chữa bệnh dưỡng lão cho giáo viên. Nhà nước khen thưởng cho giáo viên dạy học lâu dài ở vùng nông thôn, vùng khó khăn có cống hiến nổi bật.
Nguồn: VĨNH HÀ
Thay "chất" của đội ngũ giáo viên
Đồng thời với đòi hỏi một chế độ đãi ngộ tương xứng, vấn đề thay chất đội ngũ giáo viên thông qua việc thay đổi cách tuyển sinh, đào tạo và tuyển dụng cũng được nhiều chuyên gia đặt ra.
Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu do bà Nguyễn Thị Bình chủ trì, hiện nay chỉ có 10-20% số giáo viên thật sự yêu nghề. Trong khi đó qua khảo sát, PGS Vũ Trọng Rỹ (Viện Nghiên cứu giáo dục VN) cho biết đa số giáo viên hiện nay chưa nhận thức đúng về chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên mà mới chỉ dừng lại ở vai trò “người dạy”. “So với yêu cầu của giáo viên sau 10-15 năm tới, phẩm chất năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên hiện nay còn một khoảng cách đáng kể” - PGS Rỹ nhận xét.
Tuyển sinh riêng
Nhìn lại thực tế tuyển sinh những năm gần đây để thấy điểm chuẩn đầu vào ngành sư phạm liên tục giảm. Rất nhiều ngành có điểm chuẩn chỉ bằng điểm sàn. Thậm chí không ít thí sinh trúng tuyển vào ngành sư phạm nhưng điểm môn thi chuyên ngành chỉ 1, 2 điểm, thậm chí chỉ 0,25 điểm. “Năng lực như vậy thì có cây đũa thần nào trong bốn năm ĐH để đào tạo thành người giáo viên tốt sau này?” - GS Trần Hữu Tá đặt câu hỏi. GS Tá nhận định việc tuyển sinh sư phạm hiện nay khá tùy tiện. Số trường đào tạo sư phạm quá nhiều dẫn đến việc tuyển sinh bừa bãi cả về số lượng và chất lượng. Trong khi đó, ngành sư phạm có những đặc thù riêng cả về năng lực chuyên môn và đạo đức, và cần có cách tuyển sinh phù hợp chứ không phải đại trà như hiện nay. Vì vậy, ông đề nghị việc tuyển sinh cũng phải làm lại theo hướng chặt chẽ hơn giữa cung và cầu. Phải tính toán kế hoạch nhân lực sư phạm trước khi tuyển sinh.
Cùng quan điểm này, PGS Văn Như Cương cho rằng muốn có trò giỏi trước hết thầy phải giỏi. Đầu vào sư phạm thấp khiến chất lượng người thầy yếu hơn, kéo theo trò yếu hơn và đầu vào sư phạm lại tiếp tục thấp đi. Vòng tròn luẩn quẩn đó khiến chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục phổ thông nói riêng khó cải thiện được. PGS Văn Như Cương nhấn mạnh: “Việc ngành sư phạm thi chung như các trường ĐH khác hiện nay là hết sức vô lý. Người học toán để ứng dụng vào chuyên ngành của họ khác với người học toán để đi dạy”. PGS Cương đề xuất: “Không chỉ cách đánh giá kiến thức phải khác mà các trường sư phạm cần phải có vòng phỏng vấn để kiểm tra ngoại hình, giọng nói, mục đích theo học cũng như đạo đức của thí sinh để tránh trường hợp tuyển người không phù hợp”.
Ở khía cạnh đơn vị đào tạo, PGS-TS Nguyễn Kim Hồng - phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM - cho rằng yêu nghề là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của bất cứ nghề nghiệp nào. Nghề dạy học lại càng cần phải yêu nghề hơn các nghề khác vì đối tượng lao động của nghề dạy học là con người. Việc tuyển sinh “ba chung” hiện nay cũng là công cụ đưa ra một kết quả đánh giá kiến thức có thể tin cậy. Tuy nhiên, những kết quả thi tuyển cũng không tránh khỏi việc đánh giá kết quả, nhất là với những thí sinh học lệch. Hơn nữa, tuyển được người học cũng chưa thể nói là tuyển được người yêu nghề dạy học. Do đó, tuyển sinh sư phạm vẫn có thể theo phương thức “ba chung” nhưng cần có thêm vòng phỏng vấn khi sinh viên nhập học để đưa ra lời khuyên thích hợp về nghề dạy học là cần thiết.
Đào tạo cũng phải thay đổi
Không chỉ tuyển sinh, cách đào tạo của trường sư phạm cũng phải thay đổi tận gốc. PGS Văn Như Cương cho rằng muốn đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới từ trường sư phạm, cả cách tuyển sinh và chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo phải có thêm các môn về đạo đức, cho sinh viên tiếp cận sớm và nhiều hơn với học sinh và cơ sở giáo dục.
GS Trần Hữu Tá cũng khẳng định: một trong những yếu tố quyết định thành công cho việc đổi mới giáo dục là đổi mới đào tạo sư phạm. GS Tá cho rằng cần phải thu hẹp phạm vi các trường đào tạo sư phạm. Theo đó, mỗi khu vực chỉ cần một vài trường lớn đào tạo sư phạm. Đội ngũ giảng viên ưu tú sẽ tập trung về đây để nâng cao chất lượng đào tạo.
GS Đinh Quang Báo, viện trưởng Viện Nghiên cứu sư phạm, cho rằng việc đào tạo giáo viên cần điều chỉnh theo hướng cân đối lại việc đào tạo kiến thức chuyên môn và năng lực sư phạm, trong đó bao gồm các kỹ năng tìm hiểu người học, năng lực kiểm tra, đánh giá, quản lý lớp học, kỹ năng sống... “Cần tăng thời lượng và tăng tần số thực hành, thực tập ở phổ thông, coi đó là cơ hội để sinh viên có đủ khoảng thời gian rèn luyện, lắp ráp những gì tích lũy rời rạc” - GS Đinh Quang Báo nói.
Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu do bà Nguyễn Thị Bình chủ trì, hiện nay chỉ có 10-20% số giáo viên thật sự yêu nghề. Trong khi đó qua khảo sát, PGS Vũ Trọng Rỹ (Viện Nghiên cứu giáo dục VN) cho biết đa số giáo viên hiện nay chưa nhận thức đúng về chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên mà mới chỉ dừng lại ở vai trò “người dạy”. “So với yêu cầu của giáo viên sau 10-15 năm tới, phẩm chất năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên hiện nay còn một khoảng cách đáng kể” - PGS Rỹ nhận xét.
Tuyển sinh riêng
Nhìn lại thực tế tuyển sinh những năm gần đây để thấy điểm chuẩn đầu vào ngành sư phạm liên tục giảm. Rất nhiều ngành có điểm chuẩn chỉ bằng điểm sàn. Thậm chí không ít thí sinh trúng tuyển vào ngành sư phạm nhưng điểm môn thi chuyên ngành chỉ 1, 2 điểm, thậm chí chỉ 0,25 điểm. “Năng lực như vậy thì có cây đũa thần nào trong bốn năm ĐH để đào tạo thành người giáo viên tốt sau này?” - GS Trần Hữu Tá đặt câu hỏi. GS Tá nhận định việc tuyển sinh sư phạm hiện nay khá tùy tiện. Số trường đào tạo sư phạm quá nhiều dẫn đến việc tuyển sinh bừa bãi cả về số lượng và chất lượng. Trong khi đó, ngành sư phạm có những đặc thù riêng cả về năng lực chuyên môn và đạo đức, và cần có cách tuyển sinh phù hợp chứ không phải đại trà như hiện nay. Vì vậy, ông đề nghị việc tuyển sinh cũng phải làm lại theo hướng chặt chẽ hơn giữa cung và cầu. Phải tính toán kế hoạch nhân lực sư phạm trước khi tuyển sinh.
Cùng quan điểm này, PGS Văn Như Cương cho rằng muốn có trò giỏi trước hết thầy phải giỏi. Đầu vào sư phạm thấp khiến chất lượng người thầy yếu hơn, kéo theo trò yếu hơn và đầu vào sư phạm lại tiếp tục thấp đi. Vòng tròn luẩn quẩn đó khiến chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục phổ thông nói riêng khó cải thiện được. PGS Văn Như Cương nhấn mạnh: “Việc ngành sư phạm thi chung như các trường ĐH khác hiện nay là hết sức vô lý. Người học toán để ứng dụng vào chuyên ngành của họ khác với người học toán để đi dạy”. PGS Cương đề xuất: “Không chỉ cách đánh giá kiến thức phải khác mà các trường sư phạm cần phải có vòng phỏng vấn để kiểm tra ngoại hình, giọng nói, mục đích theo học cũng như đạo đức của thí sinh để tránh trường hợp tuyển người không phù hợp”.
Ở khía cạnh đơn vị đào tạo, PGS-TS Nguyễn Kim Hồng - phó hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm TP.HCM - cho rằng yêu nghề là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của bất cứ nghề nghiệp nào. Nghề dạy học lại càng cần phải yêu nghề hơn các nghề khác vì đối tượng lao động của nghề dạy học là con người. Việc tuyển sinh “ba chung” hiện nay cũng là công cụ đưa ra một kết quả đánh giá kiến thức có thể tin cậy. Tuy nhiên, những kết quả thi tuyển cũng không tránh khỏi việc đánh giá kết quả, nhất là với những thí sinh học lệch. Hơn nữa, tuyển được người học cũng chưa thể nói là tuyển được người yêu nghề dạy học. Do đó, tuyển sinh sư phạm vẫn có thể theo phương thức “ba chung” nhưng cần có thêm vòng phỏng vấn khi sinh viên nhập học để đưa ra lời khuyên thích hợp về nghề dạy học là cần thiết.
Các chuyên gia đề nghị có hình thức tuyển sinh riêng đối với khối ngành sư phạm.
Trong ảnh: thí sinh dự thi vào Trường ĐH Sư phạm TP.HCM trong kỳ tuyển sinh 2012
Ảnh: NHƯ HÙNG
Đào tạo cũng phải thay đổi
Không chỉ tuyển sinh, cách đào tạo của trường sư phạm cũng phải thay đổi tận gốc. PGS Văn Như Cương cho rằng muốn đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới từ trường sư phạm, cả cách tuyển sinh và chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo phải có thêm các môn về đạo đức, cho sinh viên tiếp cận sớm và nhiều hơn với học sinh và cơ sở giáo dục.
GS Trần Hữu Tá cũng khẳng định: một trong những yếu tố quyết định thành công cho việc đổi mới giáo dục là đổi mới đào tạo sư phạm. GS Tá cho rằng cần phải thu hẹp phạm vi các trường đào tạo sư phạm. Theo đó, mỗi khu vực chỉ cần một vài trường lớn đào tạo sư phạm. Đội ngũ giảng viên ưu tú sẽ tập trung về đây để nâng cao chất lượng đào tạo.
GS Đinh Quang Báo, viện trưởng Viện Nghiên cứu sư phạm, cho rằng việc đào tạo giáo viên cần điều chỉnh theo hướng cân đối lại việc đào tạo kiến thức chuyên môn và năng lực sư phạm, trong đó bao gồm các kỹ năng tìm hiểu người học, năng lực kiểm tra, đánh giá, quản lý lớp học, kỹ năng sống... “Cần tăng thời lượng và tăng tần số thực hành, thực tập ở phổ thông, coi đó là cơ hội để sinh viên có đủ khoảng thời gian rèn luyện, lắp ráp những gì tích lũy rời rạc” - GS Đinh Quang Báo nói.
Nguồn: V.HÀ - M.GIẢNG
Trường ĐH Bách khoa - Nhiều ngành ngừng tuyển khối A1
TS Lê Chí Thông - trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM) - cho biết kỳ thi tuyển sinh ĐH năm 2014, nhiều nhóm ngành của trường sẽ không tuyển sinh khối A1 như những năm trước.
Cụ thể:
Nhóm ngành hóa - thực phẩm - sinh học, ngành kỹ thuật dệt may và ngành kỹ thuật vật liệu chỉ tuyển sinh khối A, không tuyển khối A1.
Các ngành còn lại vẫn tuyển sinh khối A, A1 như các năm trước.
Riêng ngành kiến trúc chỉ tuyển khối V.
Cụ thể:
Nhóm ngành hóa - thực phẩm - sinh học, ngành kỹ thuật dệt may và ngành kỹ thuật vật liệu chỉ tuyển sinh khối A, không tuyển khối A1.
Các ngành còn lại vẫn tuyển sinh khối A, A1 như các năm trước.
Riêng ngành kiến trúc chỉ tuyển khối V.
Nguồn: M.G.
Đổi mới giáo dục
Lãnh đạo Bộ GD-ĐT cho biết: “Việc đổi mới trên sẽ khắc phục cơ bản những hạn chế về kiểm tra, đánh giá và thi cử hiện hành. Kết quả kiểm tra đánh giá thực chất hơn, công bằng, khách quan và trung thực hơn. Giảm bớt sự cồng kềnh, tốn kém của một số kỳ thi. Tác động tích cực trở lại việc dạy và học.
Chương trình sau năm 2015 Bộ GD-ĐT dự kiến giảm mạnh đầu các môn học để mỗi học kỳ học sinh không học cùng một lúc quá 8 môn học. Cụ thể:
Bậc Tiểu học sẽ chỉ còn 3-6 môn học + 4 hoạt động thay vì 11 môn học + 3 hoạt động như hiện nay.
Bậc THCS sẽ chỉ còn 8 môn học + 4 hoạt động thay vì 13 môn học + 4 hoạt động như hiện nay.
Bậc THPT, tiếp tục thực hiện tích hợp. Lớp 11 và 12 là giai đoạn thực hiện phân hóa mạnh và hướng nghiệp cao. Học sinh học ít môn, trong đó một số môn bắt buộc và một số môn tự chọn. Dự kiến có 3 môn bắt buộc (Tiếng Việt, Toán và Ngoại ngữ). Đồng thời, học sinh được chọn 3 môn/chủ đề trong danh mục các môn/chủ đề tự chọn như Vật lý, hóa, sinh, lịch sử, địa lý, công nghệ, khoa học về máy tính, kinh doanh, ngoại ngữ 2, nghệ thuật, hướng nghiệp…
Chương trình sau năm 2015 Bộ GD-ĐT dự kiến giảm mạnh đầu các môn học để mỗi học kỳ học sinh không học cùng một lúc quá 8 môn học. Cụ thể:
Bậc Tiểu học sẽ chỉ còn 3-6 môn học + 4 hoạt động thay vì 11 môn học + 3 hoạt động như hiện nay.
Bậc THCS sẽ chỉ còn 8 môn học + 4 hoạt động thay vì 13 môn học + 4 hoạt động như hiện nay.
Bậc THPT, tiếp tục thực hiện tích hợp. Lớp 11 và 12 là giai đoạn thực hiện phân hóa mạnh và hướng nghiệp cao. Học sinh học ít môn, trong đó một số môn bắt buộc và một số môn tự chọn. Dự kiến có 3 môn bắt buộc (Tiếng Việt, Toán và Ngoại ngữ). Đồng thời, học sinh được chọn 3 môn/chủ đề trong danh mục các môn/chủ đề tự chọn như Vật lý, hóa, sinh, lịch sử, địa lý, công nghệ, khoa học về máy tính, kinh doanh, ngoại ngữ 2, nghệ thuật, hướng nghiệp…
Nguồn: Bảo Linh
Giải thưởng Hoa Trạng Nguyên của tỉnh BRVT
Theo công văn số 05/CV-HTN-13 ngày 12 tháng 8 năm 2013 về việc xét trao giải thưởng “Hoa Trạng Nguyên 2013” cho học sinh lớp 12 xuất sắc của các trường Trung học Phổ thông (năm học 2012 – 2013) và học sinh đạt thủ khoa kỳ thi vào trường Đại học, Học viện của Hội đồng giải thưởng “Hoa Trạng Nguyên”, Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chọn cử đúng 29 học sinh đáp ứng được những tiêu chuẩn của Ban Tổ chức.
Dạnh sách đính kèm
file đính kèm
1. Công văn
2. Danh sách
Dạnh sách đính kèm
file đính kèm
1. Công văn
2. Danh sách
Nguồn: Sở giáo dục Bà Rịa Vũng Tàu
Khắc phục cách học ghi nhớ máy móc
Bộ GD-ĐT ban hành hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học mới.
Theo đó, yêu cầu giáo viên tạo điều kiện, hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng tự học, năng lực độc lập suy nghĩ; xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý, phù hợp với các đối tượng giúp học sinh vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, khắc phục việc ghi nhớ máy móc.
Chú trọng việc tổ chức thi và kiểm tra nghiêm túc, đúng quy chế, đảm bảo trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực thực chất của học sinh trung học.
Theo đó, yêu cầu giáo viên tạo điều kiện, hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng tự học, năng lực độc lập suy nghĩ; xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý, phù hợp với các đối tượng giúp học sinh vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, khắc phục việc ghi nhớ máy móc.
Chú trọng việc tổ chức thi và kiểm tra nghiêm túc, đúng quy chế, đảm bảo trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực thực chất của học sinh trung học.
T.Nguyễn
Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/
Cảm nhận của Tôi
1. "Học ghi nhớ máy móc" Bộ giáo dục chỉ đủ khả năng ngồi đó và ra quy định, ra hướng dẫn, Hỏi: Bộ làm vậy có máy móc không? vì nhiều hướng dẫn vô lý, điển hình: tố giác gian lận thi cử phải đăng ký việc đem máy ghi hình, là sao? chẳng khác nào: Thầy ơi, cho em ghi lại hình thầy để đưa lên face nhé, đố ai mà ghi được.
2. "Giáo viên tạo điều kiện, hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ năng tự học ...", Hỏi: Với cuốn SGK mang nặng tính lý thuyết, ngay cả người dạy cũng phải nhíu mày khi đọc nó, như vậy học trò thì sao? may ra chỉ có học sinh giỏi mới hiểu được, nhưng lượng học sinh giỏi của nước ta có nhiều không? Bộ đã thống kê được chưa? xin thưa: chưa, học trò mình còn yếu rất nhiều bác Bộ ạ, các bác chỉ biết viết, viết và viết chứ không hiểu mình viết cái gì, viết cho ai, rồi lại hướng dẫn thực hiện, không được thì ta viết lại cái khác, thử hỏi: Bộ không tạo điều kiện cho giáo viên thì làm sao giáo viên tạo điều kiện cho học sinh được đây và bao tội lỗi đổ đầu giáo viên.
3. "Đúng quy chế, đảm bảo trung thực" Cơ chế xin cho vẫn còn thì cái này coi như vẫn đang nằm trong phòng thí nghiệm.
Nói tóm lại: Đầu nguồn phải sạch thì cuối nguồn mới mong không bị ô nhiễm.
Chấm dứt sử dụng tài liệu dạy viết chữ ở trường mầm non
(TNO) Ông Nguyễn Bá Minh, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Mầm non (Bộ GD-ĐT), cho biết Bộ GD-ĐT quyết định từ năm học này sẽ chuyển nội dung tập tô nét chữ sang hoạt động tạo hình, chấm dứt hoàn toàn việc sử dụng các tài liệu dạy trẻ viết chữ, tô chữ với vở ô li.
Đó là nội dung ông Nguyễn Bá Minh đề cập trong Hội nghị trực tuyến qua cầu truyền hình Tổng kết năm học 2012-2013 và hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2013-2014, do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 22.8.
Theo ông Minh, chương trình yêu cầu trẻ mầm non tập tô các nét chữ chứ không phải tô chữ cái. Việc cho trẻ tập tô các nét chữ nhằm phát triển cơ tinh, hình thành tri giác vận động, hình thành biểu tượng nét chữ.
Thế nhưng, hiện nay lại có tình trạng lạm dụng việc tập tô nét chữ để đưa vở ô li vào để rèn cho trẻ tô theo cho thật chuẩn xác khiến trẻ mỏi mệt và mất nhiều thời gian để phát triển các yếu tố khác.
“Các nhà khoa học và Bộ GD-ĐT rất lo ngại về tình trạng này. Vì vậy, năm học này sẽ chuyển nội dung tập tô nét chữ sang hoạt động tạo hình để trẻ được tô tự do, không phải tô các nét chữ theo kỹ thuật một cách nặng nề, đồng thời không sử dụng tài liệu dạy trẻ viết chữ, tô chữ có ô li trong trường mầm non”, ông Minh nói thêm.
Theo đó, từ năm học 2013-2014, Bộ GD-ĐT sẽ phối hợp với các Sở GD-ĐT thanh tra, kiểm tra các trường mầm non để chấm dứt tình trạng dạy trẻ viết chữ, học trước lớp 1.
Sắp tới, Bộ GD-ĐT sẽ có hướng dẫn cụ thể về sử dụng học liệu và ban hành thông tư liên quan đến việc quản lý các tài liệu sử dụng trong nhà trường mầm non.
Đó là nội dung ông Nguyễn Bá Minh đề cập trong Hội nghị trực tuyến qua cầu truyền hình Tổng kết năm học 2012-2013 và hướng dẫn nhiệm vụ giáo dục mầm non năm học 2013-2014, do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 22.8.
Năm học tới sẽ chấm dứt việc sử dụng tài liệu dạy viết chữ cho trẻ mầm non - Ảnh minh họa: Hoàng Quyên
Theo ông Minh, chương trình yêu cầu trẻ mầm non tập tô các nét chữ chứ không phải tô chữ cái. Việc cho trẻ tập tô các nét chữ nhằm phát triển cơ tinh, hình thành tri giác vận động, hình thành biểu tượng nét chữ.
Thế nhưng, hiện nay lại có tình trạng lạm dụng việc tập tô nét chữ để đưa vở ô li vào để rèn cho trẻ tô theo cho thật chuẩn xác khiến trẻ mỏi mệt và mất nhiều thời gian để phát triển các yếu tố khác.
“Các nhà khoa học và Bộ GD-ĐT rất lo ngại về tình trạng này. Vì vậy, năm học này sẽ chuyển nội dung tập tô nét chữ sang hoạt động tạo hình để trẻ được tô tự do, không phải tô các nét chữ theo kỹ thuật một cách nặng nề, đồng thời không sử dụng tài liệu dạy trẻ viết chữ, tô chữ có ô li trong trường mầm non”, ông Minh nói thêm.
Theo đó, từ năm học 2013-2014, Bộ GD-ĐT sẽ phối hợp với các Sở GD-ĐT thanh tra, kiểm tra các trường mầm non để chấm dứt tình trạng dạy trẻ viết chữ, học trước lớp 1.
Sắp tới, Bộ GD-ĐT sẽ có hướng dẫn cụ thể về sử dụng học liệu và ban hành thông tư liên quan đến việc quản lý các tài liệu sử dụng trong nhà trường mầm non.
Hoàng Quyên
Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn
Thay đổi chất lượng sách giáo khoa
Chiều qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thảo luận về báo cáo việc thực hiện chính sách, pháp luật để bảo đảm chất lượng và chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
Giảm tải phải cụ thể
Ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban (UB) Tài chính -Ngân sách của QH cho rằng: vấn đề chương trình - sách giáo khoa (SGK) nên là điểm nhấn trong báo cáo giám sát và những đề xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Nội dung chương trình - SGK hiện hành vừa thiếu hơi thở thực tiễn cuộc sống, văn hóa VN vừa xa lạ với yêu cầu của từng địa phương, từng dân tộc. “Tại sao ngày xưa chúng tôi đi học, học sử là thấy yêu sử, học địa thấy yêu địa mà bây giờ chỉ thấy nói học sinh sợ học, chán học các môn này. Môn toán ở phổ thông học tích phân, vi phân đến khi vào ĐH cũng lại học tích phân, vi phân. Như vậy, vừa lãng phí thời gian của xã hội, áp lực cho cả học sinh và giáo viên”, ông Hiển nói.
Bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội của QH cho rằng, chỉ khi có chương trình tốt mới có được một bộ SGK tốt. Vậy chương trình sắp tới phải giải quyết được những vấn đề gì?
Dự thảo Nghị quyết của Thường vụ QH về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về đảm bảo chất lượng và chương trình giáo dục phổ thông cũng yêu cầu cần giảm số môn học bắt buộc, tăng số môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn phù hợp với năng lực, sở trường và định hướng nghề nghiệp của học sinh. Tuy nhiên, Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu đặt vấn đề: “Cần làm rõ giải pháp để giảm tải chương trình - SGK. Giảm số môn học bắt buộc thì là môn học nào và tăng số môn học tự chọn ra sao phải cụ thể hơn”.
Bàn kỹ lại vấn đề nhiều bộ SGK
Về vấn đề một hay nhiều bộ SGK, bà Trương Thị Mai nhấn mạnh: “Cần phải đưa ra bàn bạc kỹ xem chúng ta có đủ điều kiện để đi theo hướng cho phép tồn tại nhiều bộ SGK hay chưa. Đó là xu hướng tiến bộ mà các nước trên thế giới đều đang làm và chắc chúng ta cũng phải làm được”.
Ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm UB Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên - Thiếu niên và Nhi đồng của QH, cho rằng: “Trong báo cáo giám sát, chúng tôi đề xuất hướng là thực hiện một chương trình thống nhất, có yêu cầu tối thiểu và có thêm phần mềm để bổ sung kiến thức cho phù hợp với từng vùng miền, còn thêm bao nhiêu là do bộ phận thiết kế chương trình thực hiện”. Ông Thi cũng cho hay: “Chúng tôi đề nghị sắp tới chương trình phải có trước và nhà nước đầu tư một bộ SGK chuẩn, nhưng như thế không có nghĩa là chỉ có một bộ SGK duy nhất. Ngoài bộ SGK của nhà nước đầu tư thì phải có cơ chế cho các nhóm tác giả nếu có điều kiện viết những bộ khác và phụ huynh thấy bộ đó phù hợp thì sẽ mua. Các nhóm này không nhất thiết phải làm cả bộ mà có thể chỉ biên soạn SGK của một số môn”.
Nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình - SGK mới
Chương trình - SGK còn thiên về truyền đạt kiến thức, chưa chú trọng đúng mức việc rèn luyện tư duy sáng tạo và năng lực tự học, chưa cân đối dạy “chữ” với dạy “người”, giáo dục đạo đức, lối sống, lịch sử, văn hóa dân tộc cũng như định hướng nghề nghiệp. Một số nội dung thuộc một số môn học còn thiếu tính khả thi. Chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai chương trình - SGK mới nói riêng và bảo đảm chất lượng giáo dục nói chung...
(Theo Báo cáo giám sát về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo đảm chất lượng và chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của Thường vụ QH)
Thiếu niềm tin về giáo dục nên đầu tư bị phân tán
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho rằng mặc dù đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục phổ thông là rất lớn và ngày càng tăng. Tuy nhiên do quy mô của giáo dục phổ thông lớn và phát triển rất nhanh, bình quân mỗi năm tăng khoảng 250 trường, trong khi đó ngân sách chi cho GD-ĐT gồm nhiều khoản... nên chi từ ngân sách vẫn chưa đủ điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục tối thiểu. Ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH, cho rằng: “Do thiếu niềm tin của xã hội vào giáo dục nên nguồn lực đầu tư cho giáo dục của người dân bị phân tán. Tiền của gia đình bỏ cho con em đi học nhưng chưa chắc đã vào giáo dục nước nhà mà ở chỗ khác”.
Giảm tải phải cụ thể
Ông Phùng Quốc Hiển, Chủ nhiệm Ủy ban (UB) Tài chính -Ngân sách của QH cho rằng: vấn đề chương trình - sách giáo khoa (SGK) nên là điểm nhấn trong báo cáo giám sát và những đề xuất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Nội dung chương trình - SGK hiện hành vừa thiếu hơi thở thực tiễn cuộc sống, văn hóa VN vừa xa lạ với yêu cầu của từng địa phương, từng dân tộc. “Tại sao ngày xưa chúng tôi đi học, học sử là thấy yêu sử, học địa thấy yêu địa mà bây giờ chỉ thấy nói học sinh sợ học, chán học các môn này. Môn toán ở phổ thông học tích phân, vi phân đến khi vào ĐH cũng lại học tích phân, vi phân. Như vậy, vừa lãng phí thời gian của xã hội, áp lực cho cả học sinh và giáo viên”, ông Hiển nói.
Bà Trương Thị Mai, Chủ nhiệm UB Các vấn đề xã hội của QH cho rằng, chỉ khi có chương trình tốt mới có được một bộ SGK tốt. Vậy chương trình sắp tới phải giải quyết được những vấn đề gì?
Dự thảo Nghị quyết của Thường vụ QH về kết quả giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về đảm bảo chất lượng và chương trình giáo dục phổ thông cũng yêu cầu cần giảm số môn học bắt buộc, tăng số môn học, chủ đề và hoạt động giáo dục tự chọn phù hợp với năng lực, sở trường và định hướng nghề nghiệp của học sinh. Tuy nhiên, Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu đặt vấn đề: “Cần làm rõ giải pháp để giảm tải chương trình - SGK. Giảm số môn học bắt buộc thì là môn học nào và tăng số môn học tự chọn ra sao phải cụ thể hơn”.
Bàn kỹ lại vấn đề nhiều bộ SGK
Về vấn đề một hay nhiều bộ SGK, bà Trương Thị Mai nhấn mạnh: “Cần phải đưa ra bàn bạc kỹ xem chúng ta có đủ điều kiện để đi theo hướng cho phép tồn tại nhiều bộ SGK hay chưa. Đó là xu hướng tiến bộ mà các nước trên thế giới đều đang làm và chắc chúng ta cũng phải làm được”.
Nội dung SGK hiện nay còn hàn lâm, xa rời thực tế - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Ông Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm UB Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên - Thiếu niên và Nhi đồng của QH, cho rằng: “Trong báo cáo giám sát, chúng tôi đề xuất hướng là thực hiện một chương trình thống nhất, có yêu cầu tối thiểu và có thêm phần mềm để bổ sung kiến thức cho phù hợp với từng vùng miền, còn thêm bao nhiêu là do bộ phận thiết kế chương trình thực hiện”. Ông Thi cũng cho hay: “Chúng tôi đề nghị sắp tới chương trình phải có trước và nhà nước đầu tư một bộ SGK chuẩn, nhưng như thế không có nghĩa là chỉ có một bộ SGK duy nhất. Ngoài bộ SGK của nhà nước đầu tư thì phải có cơ chế cho các nhóm tác giả nếu có điều kiện viết những bộ khác và phụ huynh thấy bộ đó phù hợp thì sẽ mua. Các nhóm này không nhất thiết phải làm cả bộ mà có thể chỉ biên soạn SGK của một số môn”.
Nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu triển khai chương trình - SGK mới
Chương trình - SGK còn thiên về truyền đạt kiến thức, chưa chú trọng đúng mức việc rèn luyện tư duy sáng tạo và năng lực tự học, chưa cân đối dạy “chữ” với dạy “người”, giáo dục đạo đức, lối sống, lịch sử, văn hóa dân tộc cũng như định hướng nghề nghiệp. Một số nội dung thuộc một số môn học còn thiếu tính khả thi. Chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu triển khai chương trình - SGK mới nói riêng và bảo đảm chất lượng giáo dục nói chung...
(Theo Báo cáo giám sát về việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo đảm chất lượng và chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của Thường vụ QH)
Thiếu niềm tin về giáo dục nên đầu tư bị phân tán
Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận cho rằng mặc dù đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục phổ thông là rất lớn và ngày càng tăng. Tuy nhiên do quy mô của giáo dục phổ thông lớn và phát triển rất nhanh, bình quân mỗi năm tăng khoảng 250 trường, trong khi đó ngân sách chi cho GD-ĐT gồm nhiều khoản... nên chi từ ngân sách vẫn chưa đủ điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục tối thiểu. Ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH, cho rằng: “Do thiếu niềm tin của xã hội vào giáo dục nên nguồn lực đầu tư cho giáo dục của người dân bị phân tán. Tiền của gia đình bỏ cho con em đi học nhưng chưa chắc đã vào giáo dục nước nhà mà ở chỗ khác”.
Tuệ Nguyễn
Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn











